Những tín hiệu tích cực của kinh tế Việt Nam ngay trong “Tháng ăn chơi” Những điểm sáng trên bức tranh kinh tế Việt Nam quý I năm 2024 Lựa chọn kịch bản tăng trưởng kinh tế 6,5% cho năm 2024 |
![]() |
Cần tung ra các gói tài khoá làm trợ lực cho tăng trưởng kinh tế. |
Dự báo tại Tọa đàm Kinh tế Việt Nam và thế giới với chủ đề: "Nhận diện kinh tế quý 1: Mở lối cho kinh tế cả năm” diễn ra sáng ngày 22/4, các chuyên gia đều cho rằng nền kinh tế còn đối mặt với nhiều khó khăn, con số tăng trưởng GDP quý 1 tuy cao nhưng thiếu bền vững.
Phục hồi của nền kinh tế trong quý 1 là không bền vững...
TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho rằng GDP quý I tăng 5,66% so với cùng kỳ năm trước là mức tăng trưởng cao nhất so với cùng kỳ các năm trong giai đoạn 2020 - 2023. Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp trong quý I tăng 6,18% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 2,02 điểm % vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.
Tuy nhiên, đà tăng trưởng của chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của từng tháng trong quý 1-2024 lại không ổn định (tháng 1 tăng 18,3%, tháng 2 giảm 6,8%, tháng 3 tăng 4,1%). Đồng thời, chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) ngành sản xuất trong tháng 3/2024 dưới ngưỡng 50 điểm. “Như vậy, tôi cho rằng phục hồi của nền kinh tế trong quý 1-2024 là không bền vững”, TS. Nguyễn Đình Cung nhận xét.
Một bất thường nữa cần phải lưu ý đó là mối quan hệ giữa giá trị sản xuất công nghiệp và giá trị gia tăng trong quá trình sản xuất công nghiệp. TS. Nguyễn Đình Cung bày tỏ rằng trong thời kỳ trước đại dịch Covid-19 và trong thời gian dịch bệnh đó, tăng trưởng trung bình của giá trị sản xuất công nghiệp thường cao hơn so với tăng trưởng trung bình của giá trị gia tăng sản xuất công nghiệp, hoặc có thể hai chỉ số này sẽ ổn định ở mức gần nhau.
Tuy nhiên, đến năm 2023 và quý 1-2024, giá trị gia tăng của sản xuất công nghiệp lại vượt xa giá trị sản xuất công nghiệp. “Điều này làm cho tôi nghi ngờ vì chi phí tiền lương và nguyên liệu đều gia tăng, trong khi bán hàng không đổi, mà lợi nhuận lại tăng lên”, chuyên gia Nguyễn Đình Cung nói.
Ngoài ra, tỷ lệ giữa doanh nghiệp gia nhập thị trường và doanh nghiệp rút khỏi thị trường trong quý 1-2024 cũng ghi nhận nhiều biến động đáng chú ý. Cụ thể, trong giai đoạn từ năm 2018-2022, trung bình cứ bốn doanh nghiệp gia nhập thị trường thì chỉ có một doanh nghiệp rút khỏi thị trường. Tuy nhiên, từ năm 2023 đến quý 1-2024, tỷ lệ này thay đổi rõ rệt khi cứ mỗi doanh nghiệp gia nhập thị trường thì sẽ có hai doanh nghiệp rút khỏi thị trường.
Theo thông tin từ Cục Quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), có 36.244 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong quý 1-2024, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, đối lập với số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, có đến 73.978 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường quý 1-2024, tăng 22,8% so với cùng kỳ năm ngoái.
Trong số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, có: 53.365 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh trong ngắn hạn; hơn 15,5 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể; 5,1 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 10,1%. Bình quân một tháng có hơn 24 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
Như vậy, so sánh giữa số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động với số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, trong quý 1-2024, tổng số doanh nghiệp nước ta giảm 14 nghìn doanh nghiệp, bình quân một tháng giảm 4,7 nghìn doanh nghiệp.
Theo TS. Nguyễn Đình Cung, sự gia tăng về số lượng doanh nghiệp rút khỏi thị trường ở hầu hết các lĩnh vực là một biểu hiện rõ ràng cho thấy doanh nghiệp và nền kinh tế đang gặp phải những khó khăn đáng kể và tình trạng này đặt ra nhiều vấn đề về sự ổn định và động lực phát triển của các doanh nghiệp, cũng như cả nền kinh tế trong tương lai.
Tăng trưởng GDP năm 2024 có thể đạt 6 - 6,5%
![]() |
TS. Cấn Văn Lực. |
Dù khẳng định kinh tế vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, song TS. Cấn Văn Lực, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính Tiền tệ Quốc gia dự báo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ đạt ở mức 6 – 6,5% nhưng cần đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công và tung ra các gói tài khoá làm trợ lực cho tăng trưởng.
Ông cho biết đầu tư công dự báo vẫn là trợ lực chính cho tăng trưởng kinh tế khi cả nước dự kiến đẩy mạnh giải ngân gần 700.000 tỷ đồng, tăng 12% so với 2023. Trong khi đó, số liệu về vốn FDI cũng khá tích cực với vốn đăng ký mới và bổ sung đạt 6,17 tỷ USD (tăng 13,4%), vốn giải ngân đạt 4,63 tỷ USD (tăng 7,1%).
Về chính sách tiền tệ, thị trường có thể yên tâm khi lãi suất dự báo duy trì ở mức thấp trong cả năm, có thể tăng nhưng chỉ là cục bộ vài ngân hàng chứ không phải toàn thị trường do thanh khoản hệ thống dồi dào và các tổ chức tín dụng cũng mong kích cầu tín dụng.
Ngoài ra, ông Lực cũng nhắc đến một số trợ lực khác cũng được như việc hoàn thiện thể chế được thúc đẩy như: Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật các Tổ chức tín dụng sửa đổi… Dự kiến khi các luật, chính sách bắt đầu có hiệu lực vào đầu năm tới, thông thường thị trường sẽ đón trước các tín hiệu.
Về chính sách tài khóa, dự báo lạm phát của Việt Nam 2024 khoảng 3,5 - 4%, dù cao hơn mức 3,25% của năm 2023 nhưng vẫn dưới mục tiêu (4 - 4,5%), là mức chấp nhận được. Cùng đó, nợ công, nợ nước ngoài, thâm hụt ngân sách, nghĩa vụ trả nợ so với thu NSNN trong ngưỡng Quốc hội cho phép nên chuyên gia từ BIDV nhận định rủi ro tài khóa chỉ ở mức trung bình và Việt Nam còn dư địa chính sách tài khóa cho những gói hỗ trợ mới.
“Chính phủ có thể cân nhắc tiếp tục giảm thuế giá trị gia tăng đến hết năm 2024, cùng với cho phép giảm lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất trong nước như hồi dịch COVID-19”, ông Lực nêu rõ.
Ngoài ra, ông Lực cho rằng, chính sách tiền tệ sẽ là nhóm “bổ trợ” thông qua việc điều hành chủ động, linh hoạt, cho phép cơ cấu lại nợ (cho phép gia hạn đến hết năm 2024). Đồng thời, nâng cao hiệu quả phối hợp chính sách nhằm thúc đẩy tăng trưởng, ổn định vĩ mô, bình ổn tỷ giá…
Cùng đó cần tiếp tục đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, kịp thời ban hành và thực thi hiệu quả hơn các chính sách, giải pháp tháo gỡ các vướng mắc, nhất là về pháp lý, định giá đất, hoàn thuế giá trị gia tăng, tiếp cận vốn phát triển nhà ở xã hội...
Ngoài ra cũng cần kết hợp thúc đẩy những động lực tăng trưởng mới như kinh tế số, tăng trưởng xanh, liên kết vùng, cải cách thể chế kinh tế, năng suất lao động, tăng đóng góp TFP vào tăng trưởng.
Chính sách tài khóa làm chủ lực để thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng năm 2024, nhóm chuyên gia BIDV đề xuất chính sách tài khóa làm chủ lực, “mở rộng, có trọng tâm” do dư địa tài khóa còn đáng kể.
Trong đó, chuyên gia đề xuất cân nhắc tiếp tục giảm thuế giá trị gia tăng đến hết năm 2024, cùng với cho phép giảm lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất trong nước bởi theo ông Lực, giảm lệ phí trước bạ ô tô có thể kích cầu rất tốt. “Dù thu ngân sách giảm nhưng ngược lại bán được ô tô thì lại thu về thuế giá trị gia tăng và các loại phí khác, mức tăng đó còn cao hơn mức giảm”, TS Lực cho hay. Ngoài ra, thúc đẩy và lành mạnh hóa tín dụng tiêu dùng cũng là giải pháp kích cầu.
Phối hợp với chính sách tài khóa, nhóm chuyên gia kiến nghị chính sách tiền tệ sẽ là nhóm “bổ trợ” thông qua việc điều hành chủ động, linh hoạt, cho phép cơ cấu lại nợ (cho phép gia hạn đến hết năm 2024). Đồng thời, nâng cao hiệu quả phối hợp chính sách nhằm thúc đẩy tăng trưởng, ổn định vĩ mô, bình ổn tỷ giá…
Cùng đó cần tiếp tục đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, kịp thời ban hành và thực thi hiệu quả hơn các chính sách, giải pháp tháo gỡ các vướng mắc (nhất là về pháp lý, định giá đất, hoàn thuế giá trị gia tăng, tiếp cận vốn phát triển nhà ở xã hội...)
Ngoài ra cũng cần kết hợp thúc đẩy những động lực tăng trưởng mới như kinh tế số, tăng trưởng xanh, liên kết vùng, cải cách thể chế kinh tế, năng suất lao động, tăng đóng góp TFP vào tăng trưởng.
“Nếu phát huy, khai thác tốt 7 động lực tăng trưởng mới này, GDP có thể tăng thêm từ 0,9 - 1,4 điểm phần trăm trước mắt trong bối cảnh toàn cầu đang suy giảm cũng như lâu dài”, TS. Cấn Văn Lực tính toán.
![]() |
![]() |
![]() |