![]() |
Lựu (tên khoa học: Punica granatum, họ Lythraceae), còn được gọi là: thạch lựu, tháp lựu, thừu lựu, an thạch lựu, toan thạch lựu, bạch lựu, lựu chùa tháp, thiên tương… với loại thường thấy nhất là lựu đỏ (hoa màu đỏ, quả khi chín màu đỏ hồng). Ngoài ra còn có lựu trắng, còn gọi là lựu bạch (ngọn lá non màu trắng, hoa trắng, quả khi chín màu trắng vàng).
Lựu thuộc dạng thân gỗ, cây nhỏ, cành mềm, có gai. Lá lựu nhỏ, dài, hoa có hình dạng như cái loa với 5 hoặc 6 cánh, cuống hoa ngắn. Quả lựu tròn, to, chia thành các khoan chứa rất nhiều hạt bên trong. Lớp áo hạt ăn giòn, chua ngọt. Các bộ phận của cây lựu đều có thể dùng làm thuốc nhưng phổ biến là quả và vỏ quả.
![]() |
Công dụng làm thuốc của cây lựu
Hoa lựu: Nước sắc hoa lựu được dùng để điều trị thổ huyết. Ngoài ra, hoa lựu còn được dùng trong trường hợp vết thương ra máu bằng cách phơi khô, tán bột rồi dùng để đắp ngoài da.
Quả lựu (phần ăn được): Theo Đông y, lựu có vị ngọt, hơi chua nhẹ, tính ấm. Phần ăn được của hạt lựu chứa nhiều loại vitamin nhóm B như B1, B2, B3, B5, B6, B9 và các khoáng chất cần thiết cho cơ thể như Can xi, Sắt, Ma giê, Phốt pho, Ka li, Kẽm. Đặc biệt, hàm lượng vitamin C trong lựu khá cao: 6,1 mg/ 100 g hạt lựu
Kết quả nghiên cứu cho thấy uống nước ép lựu liên tục trong hai tuần, mỗi ngày khoảng 50 đến 60 ml làm giảm quá trình o xy hóa đến 40 %, đồng thời cũng làm giảm lượng cholesterol lắng đọng trong cơ thể. Đáng chú ý, hiệu quả này vẫn kéo dài thêm 1 tháng sau khi ngừng sử dụng lựu. Bên cạnh đó, kết quả điều tra lâm sàng cũng cho thấy nước ép quả lựu chống lão hóa và chống bệnh tim mạch rất tốt.
Vỏ lựu: Vỏ lựu vị chua và chát, tính ấm, có tác dụng cầm máu, điều trị lỵ, tiêu chảy (sắc uống khoảng 3 – 6g mỗi ngày). Bên cạnh đó, vỏ lựu còn điều trị khí hư, lòi dom bằng cách giã nát, đắp ngoài hoặc giã nát, ép lấy nước để thụt rửa ngoài.
Vỏ rễ cây lựu: Vỏ rễ cây lựu có vị đắng và chát, tính ấm, có tác dụng ức chế trực khuẩn gây ra bệnh lỵ, thương hàn. Nước sắc vỏ rễ có tác dụng sát trùng, trừ giun sán. Đối với trường hợp bị sâu răng, có thể dùng nước sắc vỏ rễ để ngậm.
Chiết xuất metanol từ bột vỏ lựu có hoạt tính chống o xy hóa và bảo vệ gan.
Nước ép hạt lựu và vỏ lựu có tác dụng chống o xy hóa mạnh, chống viêm và chống ung thư. Cụ thể, kết quả nghiên cứu cho thấy chiết xuất áo hạt lựu có tác dụng hỗ trợ điều trị ung thư vú ở người.
Nhìn chung, các bộ phận của cây lựu, quả, vỏ quả, vỏ rễ, hoa và lá đều có thể sử dụng làm thuốc, nhưng thông dụng nhất là quả và vỏ quả. Tuy nhiên dược liệu lưu ý không dùng cho người bị táo bón.
![]() |
Bài thuốc trị bệnh từ cây lựu
Chữa miệng hôi, viêm amiđan: Quả lựu sắc lấy nước đặc, ngậm và nuốt từ từ, nhiều lần trong ngày.
Chữa bỏng nhẹ: Thạch lựu hoa hoặc thạch lựu bì, lượng vừa đủ, sấy khô tán bột, trộn với dầu vừng bôi vào nơi tổn thương.
Chữa kiết lỵ lâu ngày, đại tiện ra máu: Quả lựu tươi 1-2 quả, để cả vỏ, đập nhỏ, sắc nước uống nhiều lần, uống trong ngày.
Hoặc dùng bài: Quả lựu nướng khô, nghiền bột mịn, bảo quản nơi khô ráo; ngày uống 3 lần, mỗi lần 12g, chiêu thuốc bằng nước cơm hoặc cháo loãng.
Chữa chảy máu cam: Thạch lựu hoa 8g sắc nước uống. Có thể dùng thạch lựu hoa dưới dạng tán bột mịn, 1 lượng nhỏ thổi vào lỗ mũi.
Hỗ trợ chức năng tiêu hóa, trị tiêu chảy: Quả lựu tươi 2 trái, bóc bỏ vỏ sắc với 500ml nước, đun nhỏ lửa cho cạn còn 150ml, thêm mật ong vừa đủ. Chia ra 2-3 lần uống trong ngày.
Chữa tiểu són, tiểu rắt, tiểu không tự chủ: Quả lựu sao tồn tính (bên ngoài cháy đen, bên trong vẫn giữ nguyên chất), tán bột; ngày uống 3 lần, mỗi lần dùng 6g, hòa với nước ấm.
![]() |
Chữa loét miệng, nhiệt miệng: Quả lựu sao tồn tính (bên ngoài cháy đen, bên trong vẫn giữ nguyên chất), tán thành bột mịn, bôi vào nơi tổn thương.
Chữa thoát giang (sa trực tràng): Thạch lựu bì, thiên căn, mỗi vị 10g, sắc uống trong ngày.
Thuốc dùng ngoài: Thạch lựu hoa hoặc thạch lựu bì 30g, phèn chua một chút, sắc kỹ rồi cho thêm một ít bột ngũ bội tử sao, ngâm hậu môn hàng ngày.
Trị tiêu chảy: Thạch lựu bì 5g, sơn tra 10g. 2 vị nghiền bột mịn, chia thành 2 phần uống với nước ấm. Có thể thêm đường cho dễ uống.
Hỗ trợ điều trị bệnh sỏi thận: Rễ lựu 30g, kim tiền thảo 30g, sắc nước uống trong ngày.
Trị viêm nhiễm ngoài da lở loét chảy mủ: Lá lựu, sấy khô, nghiền thành bột mịn, rắc vào nơi tổn thương.
Chữa phế ung (áp-xe phổi): Thạch lựu hoa 6g, ngưu tất 6g, nhẫn đông đằng 15g, bách bộ 9g, bạch cập 30g, đường phèn 30g, sắc nước uống.
![]() |
Lưu ý
Ăn nhiều lựu sẽ gây nóng trong người và làm đen răng. Để tránh đen răng, cần súc miệng nhẹ sau khi ăn. Đặc biệt, trẻ em đang bị viêm phế quản không nên ăn nhiều lựu vì sẽ dễ bị ho đờm và tăng tình trạng bệnh.
Người bị bệnh dạ dày và vừa mới bị kiết lỵ, táo bón, tiểu đường không nên ăn quả lựu.
Nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng các thông tin trên để chữa bệnh. Nếu trong quá trình sử dụng có dấu hiệu bất thường về sức khỏe, cần dừng lại và tham khảo ý kiến bác sĩ.