![]() |
Khung cảnh lễ hội đền Bà Triệu (Ảnh: ST) |
Bà Triệu (tên là Triệu Thị Trinh, còn gọi là Trinh Nương, hay Triệu Ẩu), sinh năm 226, người huyện Quân Yên (Quan Yên), quận Cửu Chân.
Năm 248, Bà Triệu cùng anh trai Triệu Quốc Đạt tập hợp trai tráng trong vùng tụ nghĩa chống lại ách đô hộ nhà Ngô. Một thời gian ngắn sau, Triệu Quốc Đạt lâm bệnh qua đời, Bà được tướng sĩ tôn làm Chủ tướng. Trước sức mạnh của quân ta, các thành ấp của quân Ngô ở Cửu Chân lần lượt bị đánh hạ.
Cuộc khởi nghĩa phát triển, lan rộng ra các vùng Giao Chỉ, kéo dài vào tận Nhật Nam.Trước tình hình đó, Ngô vương Tôn Quyền đã phải cử viên tướng Lục Dận làm Thứ sử đem quân sang đàn áp. Sau nhiều trận chiến ác liệt, nghĩa quân không thể chống chọi được với cường địch. Bà Triệu đã tuẫn tiết trên Núi Tùng (nay thuộc xã Triệu Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hóa) vào ngày 22 tháng Tám, năm Mậu Thìn (248), khi mới tròn 23 tuổi.
![]() |
Đền Bà Triệu ở Thanh Hóa |
Để tưởng nhớ ân đức của Bà Triệu và các tướng sĩ, nhân dân đã lập đền thờ ngay tại địa điểm trước đây Bà cùng nghĩa quân đã chiến đấu và hy sinh oanh liệt.
Trải qua biến cố của thời gian và lịch sử, đền thờ Bà Triệu tại Núi Tùng vẫn được nhân dân gìn giữ, là nơi tổ chức các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng.
Khu di tích Bà Triệu được xây dựng, trùng tu, tôn tạo qua nhiều thời kỳ khác nhau, bao gồm các địa điểm: Đền thờ và lăng mộ Bà Triệu, mộ ba Ông tướng họ Lý, miếu Bàn thề, đình Phú Điền, đền Đệ Tứ.
Đền Bà Triệu tọa lạc hướng Bắc, gồm: Nghi môn ngoại, hồ sen hình chữ nhật, bình phong, Nghi môn trung, sân dưới, Nghi môn nội, sân trên (hai bên có Tả/hữu mạc), Tiền đường, sân thượng, Trung đường, sân thiên tỉnh, Hậu cung.
Nghi môn ngoại được xây kiểu tứ trụ, bằng đá nguyên khối; trên đỉnh cột trụ cao là hình chim phượng lá lật, trụ thấp hình nghê chầu, lồng đèn chạm hình tứ linh, tường hai bên là hai bức chạm nổi tượng voi chầu.
![]() |
Lễ hội đền Bà Triệu |
Hồ nước có chiều rộng 29,8m, dài 42,2m, ba mặt hồ xây lan can thấp, mặt đối diện với Nghi môn nội được tạo bậc lên xuống, bậc thềm có rồng chầu
.Bình phong đặt phía trước Nghi môn trung, bằng đá nguyên khối, tạo tác theo kiểu hình cuốn thư, dài 4,075m, cao 2,37m.
Nghi môn trung có kiến trúc tứ trụ truyền thống, trên đỉnh cột lớn là hình chim phượng lá lật, hai cột trụ nhỏ chạm nổi hình khối tượng nghê chầu, các ô lồng đèn trang trí hình tứ linh.
Sân dưới nằm trước nghi môn nội, dài 49,8m, rộng 12m; nền sân lát gạch bát. Ở hai bên tả, hữu của sân có miếu Sơn thần và Thổ thần.
Nghi môn nội có kiểu dáng như Tam quan của chùa, gồm 2 tầng mái, 3 cửa ra vào, 4 cột cao ở cửa giữa và 4 cột thấp ở hai cửa bên; đỉnh cột trụ lớn gắn chim phượng lá lật, trụ nhỏ có nghê chầu; mái cuốn vòm, dán ngói âm dương. Hai bên cửa chính ra vào đặt 2 tượng nghê chầu cổ bằng đá.
Sân trước nhà Tiền đường dài 51,40m, rộng 11,55m, nền lát bằng đá tảng đục nhám mặt. Trên sân đặt 01 bát hương đá hình tròn, hai bên có 2 cây đèn đá hình trụ, phía ngoài đặt 2 tượng voi chầu bằng đá khối.
Tả/ Hữu mạc nằm ở hai bên sân trước nhà Tiền đường, mỗi nhà có 5 gian, thu hồi bít đốc, tường bao 3 mặt; vì kèo làm bằng gỗ lim theo kiểu“chồng rường giá chiêng”, chạm hình hoa lá; nền nhà lát gạch bát kiểu cổ.
![]() |
Tiền đường: 3 gian 2 chái, mái thu hồi bít đốc, vì kèo kiểu “quá giang, trụ đinh, kèo suốt” trên 4 hàng chân cột (12 cột) bằng đá núi Nhồi, đục vuông cạnh, trên các cột đá chạm nổi vế đối chữ Hán. Nóc nhà trang trí hổ phù đội mặt trăng, ngậm chữ Thọ; kìm nóc hình đầu rồng, đuôi rồng có dáng đuôi cá mang đậm dấu ấn của kiến trúc và điêu khắc thời Nguyễn.
Trung đường: ngăn cách với nhà Tiền đường bới sân thượng, lát bằng đá xanh đục nhám mặt ở trục thần đạo. Trung đường là kiến trúc gỗ 5 gian 2 tầng mái cong, 4 vì kèo gỗ cấu trúc “giá chiêng chồng rường kẻ bẩy”, trang trí đề tài tứ linh, hình hoa lá, vân mây, rồng hóa... Tại gian giữa, đặt 2 tượng nghê chầu cổ. Ở phía ngoài, trang trí các bức phù điêu kìm nóc và kìm góc mái, rồng ngậm chữ Thọ đội mặt nguyệt, nghê chầu ở hai bên bờ chảy. Bậc Tam cấp có rồng chầu bằng đá xanh nguyên khối, kiểu dáng thời Lê.
Hậu cung: nối với Trung đường bằng sân Thiên tỉnh, dài 2,45m, rộng 6,9m, trục thần đạo lát đá xanh đục nhám mặt. Hậu cung có kiến trúc bằng gỗ 3 gian 2 chái, hai tầng mái cong, với 4 vì kèo kiểu "giá chiêng chồng rường, kẻ bẩy", 4 hàng chân cột. Trang trí trên hệ khung vì là các bức chạm nổi, chạm bong hình rồng, lá cúc leo, cúc to bản, hoa sen ở các đầu dư, quá giang, kẻ bẩy, hình tượng rồng ở kìm góc, kìm nóc mái
Với giá trị đặc biệt tiêu biểu, di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Khu di tích Bà Triệu (huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa) đã được xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2408/QĐ-TTg ngày 31/12/2014 Thủ tướng Chính phủ.
Nếu có dịp đến Thanh Hóa bạn hãy ghé qua ngôi đền thờ linh thiêng này một chút để thanh tịnh tâm hồn, để thắp nén nhang thơm tưởng nhớ các vị anh hùng đã có công với đất nước, để phần nào hiểu hơn về lịch sử truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam bạn nhé!