Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản sang Nga phải tạm dừng Hoa Kỳ trở thành thị trường nhập khẩu nông sản lớn nhất của Việt Nam Xuất khẩu nông sản 2 tháng đầu năm ước đạt 8 tỷ USD |
![]() |
Xuất khẩu nông lâm thủy sản quý I/2022 ước đạt 12,8 tỷ USD |
Xuất siêu nông lâm thủy sản tăng gấp 3 lần
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), quý I/2022, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng nông lâm thủy sản ước đạt 22,6 tỷ USD, tăng 6,3% so với quý I/2021; trong đó xuất khẩu đạt trên 12,8 tỷ USD, nhập khẩu ước khoảng 9,8 tỷ USD.
Với kết quả trên, tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn quý I đã vượt mục tiêu đề ra 2,1 tỷ USD. Giá trị xuất siêu nông lâm thủy sản đạt khoảng 3 tỷ USD, tăng gấp 3,1 lần so với cùng kỳ năm ngoái.
Trong tháng 3/2022, kim ngạch xuất khẩu ước trên 4,7 tỷ USD, tăng 6% so với tháng 3/2021, tăng 47,1% so với tháng 2/2022 và tăng 6,0% so với tháng 3/20 ; trong đó giá trị xuất khẩu nhóm nông sản chính khoảng 2 tỷ USD, lâm sản chính ước gần 4,3 tỷ USD, thủy sản đạt 900 triệu USD và chăn nuôi đạt 29,9 triệu USD…
Tính chung quý I/2022, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản ước trên 12,8 tỷ USD, tăng 15,3% so với quý I/2021. Trong đó, xuất khẩu nhóm nông sản chính đạt gần 5,5 tỷ USD, tăng 12,8%; lâm sản chính đạt 4,3 tỷ USD, tăng 4,4%; thủy sản ước đạt 2,4 tỷ USD, tăng 38,7% so với cùng kỳ năm ngoái.
![]() |
Số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn |
Quý I/2022, nhiều mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu cao hơn so với cùng kỳ, như: Cao su, chè, gạo, hồ tiêu, sắn và các sản phẩm từ sắn, cá tra, tôm, gỗ và các sản phẩm gỗ.
Cụ thể,mặt hàng cà phê đã bứt tốc với mức tăng trưởng trên 50%, mang về giá trị xuất khẩu đạt khoảng 1,2 tỷ USD.Cùng với đó còn có gạo đạt 715 triệu USD (tăng 10,5%); hồ tiêu khoảng 252 triệu USD (tăng 40,8%); sắn và sản phẩm sắn đạt 420 triệu USD (tăng 15,5%).
Đặc biệt, mặt hàng thủy sản cũng có sự tăng trưởng mạnh, điển hình như: cá tra tăng 82%, đạt 606 triệu USD, tôm cũng tăng gần 40%, đạt 929 triệu USD.
Nhiều mặt hàng khác cũng có mức tăng trưởng ở hai con số như: gỗ và sản phẩm gỗ đạt trên 3,9 tỷ USD (tăng 3,0%); mây, tre, cói thảm đạt 265 triệu USD (tăng 34,4%).
Tuy nhiên, cũng có những mặt hàng giảm gồm: chè đạt 36 triệu USD, giảm gần 12%; nhóm hàng rau quả đạt khoảng 849 triệu USD, giảm 12%; hạt điều ước đạt 630 triệu USD, giảm 5%.
Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản mua nông sản của Việt Nam nhiều nhất
Về thị trường xuất khẩu, trong quý I/2022, các thị trường thuộc khu vực châu Á chiếm tỷ trọng nông, lâm, thủy sản lớn nhất với 40,3%; tiếp đến là châu Mỹ 29,5%; châu Âu 13,1%, châu Đại Dương và châu Phi.
![]() |
Xuất khẩu tôm tăng gần 40%, đạt 929 triệu USD trong quý I/2022 |
Thị trường xuất khẩu lớn nhất là Hoa Kỳ đạt gần 3,5 tỷ USD (chiếm 27,1% thị phần), trong đó kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng gỗ và sản phẩm gỗ chiếm tới 68,2% tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam tại thị trường này.
Đứng thứ 2 là thị trường Trung Quốc trên 2,1 tỷ USD (chiếm 16,6% thị phần) với kim ngạch xuất khẩu nhóm cao su chiếm 29,0% tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản tại thị trường này.
Thứ 3 là thị trường Nhật Bản với giá trị xuất khẩu đạt gần 872 triệu USD (chiếm 6,8% thị phần) và xuất khẩu nhóm sản phẩm gỗ lớn nhất chiếm 44,3% giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản tại thị trường này.
Thị trường Hàn Quốc đứng vị trí thứ 4 với giá trị xuất khẩu đạt khoảng 562 triệu USD (chiếm 4,4% thị phần) và xuất khẩu nhóm sản phẩm gỗ lớn nhất chiếm 45,2% giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản tại thị trường này.
Tiếp tục thúc đẩy mở cửa thị trường nông sản với các nước
Thúc đẩy sản xuất cũng như xuất khẩu, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, Bộ thường xuyên trao đổi, cung cấp thông tin nhanh về giá cả, sản lượng và tình hình sản xuất, cung ứng các sản phẩm nông sản có thể gặp khó khăn trong tiêu thụ trước tình hình dịch bệnh; tham mưu Chính phủ các giải pháp tháo gỡ ùn tắc hàng hóa nông sản tại cửa khẩu.
![]() |
Vải thiều Việt Nam được ưa chuộng tại Nhật Bản |
Các đơn vị chức năng tập trung đàm phán để thúc đẩy xuất khẩu ớt, sầu riêng, sữa và sản phẩm sữa, bột cá và dầu cá, sản phẩm lông vũ sang Trung Quốc; nhãn sang Nhật Bản; bưởi, chanh ta sang New Zealand; bưởi sang Mỹ và Ấn Độ; sản phẩm động vật sang Hàn Quốc; mật ong sang EU… Đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu gạo, rau, quả thực hiện đúng quy định của các nước như Hàn Quốc, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ…
Thời gian qua, các đơn bị của Bộ đã tập trung hướng dẫn các đơn vị, doanh nghiệp thực hiện quy định Lệnh 248, Lệnh 249 của Tổng cục Hải quan Trung Quốc. giải pháp thắc mắc của doanh nghiệp về các quy định của Trung Quốc liên quan đến hạt điều, đậu... Đến nay, Tổng cục Hải quan Trung Quốc đã cấp 1.920 mã sản phẩm cho các doanh nghiệp của Việt Nam.
Bên cạnh đó, Bộ đã tổng hợp được 256 thông báo dự thảo về quy định về kiểm dịch động thực vật (SPS) của các nước thành viên thuộc tổ chức Thương mại thế giới (WTO) có thể ảnh hưởng tới mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam. Hiện các cơ quan liên quan đang xem xét góp ý. Trong quý I, Bộ cũng xử lý 12 cảnh báo của EU về sản phẩm nông sản, thực phẩm của Việt Nam.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, Bộ tiếp tục thúc đẩy mở cửa thị trường nông sản với các nước; kịp thời cung cấp các thông tin, các quy định thị trường, kiểm soát xuất nhập khẩu Việt Nam - Trung Quốc; chuẩn bị nội dung làm việc song phương với Anh, Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Hàn Quốc; xây dựng Đề án thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thủy sản đi châu Âu, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản; tháo gỡ vướng mắc với Tổng cục Hải quan Trung Quốc phù hợp quy định Lệnh 248, 249.
Theo các chuyên gia, đa dạng hóa các hình thức xúc tiến thương mại chính là giải pháp mở thêm những "cánh cửa" đưa nông sản đến với thị trường trong nước và quốc tế vừa qua và sắp tới.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, tính chung quý I/2022, kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản ước đạt gần 9,8 tỷ USD, giảm 3,5% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, giá trị nhập khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 6,2 tỷ USD, giảm 2,7%; nhóm hàng thủy sản ước khoảng 564,3 triệu USD, tăng 13%; nhóm lâm sản chính khoảng 675,4 triệu USD, giảm 10,3%; nhóm sản phẩm chăn nuôi khoảng 726,3 triệu USD, giảm 15,5%; nhóm đầu vào sản xuất ước trên 1,6 tỷ USD, giảm 2,3% (nhưng phân bón tăng 55,8%, thuốc bảo vệ thực vật tăng 17,1%). Đứng đầu là thị trường Brazil xuất khẩu sang Việt Nam đạt 846 triệu USD, chiếm 8,6% thị phần, trong đó, mặt hàng bông các loại chiếm 29,5% giá trị xuất khẩu. Tiếp theo là Campuchia đạt khoảng 738,4 triệu USD, chiếm 7,5% thị phần, trong đó, mặt hàng cao su chiếm khoảng 81,1% giá trị xuất khẩu. |