Giá cà phê hôm nay tiếp tục tăng
![]() |
Giá cà phê hôm nay (17/01), ghi nhận thị trường cà phê trong nước tăng so với cùng thời điểm hôm qua.
Tại huyện Di Linh, Lâm Hà, Bảo Lộc (Lâm Đồng) giá cà phê hôm nay được thu mua với mức 72.100 đồng/kg.
Tại huyện Cư M'gar (Đắk Lắk) giá cà phê hôm nay ở mức 72.700 đồng/kg. Tại huyện Ea H'leo (Đắk Lắk), Buôn Hồ (Đắk Lắk) giá cà phê hôm nay được thu mua cùng mức 72.600 đồng/kg.
Tương tự tại tỉnh Đắk Nông, giá cà phê hôm nay thu mua ở mức 72.800 đồng/kg tại Gia Nghĩa và 72.700 đồng/kg ở Đắk R'lấp.
Tại tỉnh Gia Lai, giá cà phê hôm nay ở mức 72.700 đồng/kg (Chư Prông), ở Pleiku và La Grai cùng giá 72.600 đồng/kg. Còn giá cà phê hôm nay tại tỉnh Kon Tum được thu mua với mức 72.600 đồng/kg.
Theo ghi nhận, giá cà phê trên thị trường thế giới tăng. Theo đó, giá cà phê trực tuyến robusta tại London giao tháng 3/2024 được ghi nhận tại mức 3.170 USD/tấn sau khi tăng 6,13% (tương đương 186 USD).
Giá cà phê arabica giao tháng 3/2024 tại New York ở mức 185,25 US cent/pound sau khi tăng 2,92% (tương đương 5,25 US cent) tại thời điểm khảo sát vào lúc 6h40 (giờ Việt Nam).
Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) dự báo sản lượng cà phê toàn cầu trong niên vụ 2023-2024 đạt 171,4 triệu bao, trong khi tiêu thụ ở mức kỷ lục 169,5 triệu bao. Tồn kho cà phê thế giới dự kiến sẽ giảm xuống mức thấp nhất trong 12 năm qua là 26,5 triệu bao.
Theo báo cáo mới đây của USDA, sản lượng cà phê toàn cầu trong niên vụ 2023-2024 dự báo đạt 171,4 triệu bao (loại 60 kg/bao), tăng 4,2% tương ứng 6,9 triệu bao so với niên vụ trước.
Sản lượng tăng ở các nước sản xuất cà phê Arabica chủ chốt như Brazil, Colombia và Ethiopia dự kiến sẽ bù đắp cho sự sụt giảm ở Indonesia, một trong những quốc gia sản xuất robusta chính ở khu vực Đông Nam Á.
Với dự báo này, sản lượng cà phê Arabica toàn cầu trong niên vụ 2023-2024 dự kiến sẽ tăng 9,4 triệu bao lên 97,3 triệu bao. Ngược lại, robusta giảm năm thứ hai liên tiếp xuống còn 74,1 triệu bao so với 76,6 triệu bao của niên vụ trước và là mức thấp nhất trong 4 niên vụ gần đây. Bên cạnh đó, xuất khẩu cà phê toàn cầu dự kiến tăng 8,4 triệu bao so với niên vụ trước lên 119,9 triệu bao, chủ yếu nhờ các lô hàng tăng cường từ Brazil.
Đồng thời, tiêu thụ cà phê toàn cầu dự báo ở mức kỷ lục 169,5 triệu bao trong niên vụ 2023-2024. Tồn kho cuối vụ dự kiến tiếp tục thắt chặt và giảm xuống chỉ còn 26,5 triệu bao, mức thấp nhất trong 12 năm qua.
Sản lượng cà phê của Việt Nam trong niên vụ 2023-2024 dự báo tăng 300.000 bao so với niên vụ trước lên 27,5 triệu bao, với gần 95% trong số đó là cà phê Robusta.
USDA dự báo sản lượng cà phê Robusta của Việt Nam trong niên vụ 2023-2024 vào khoảng 26,6 triệu bao, tăng 1,2% so với niên vụ trước; trong khi arabica giảm 11,1% xuống còn 880.000 bao.
Tuy nhiên, tổng nguồn cung của Việt Nam vẫn thấp hơn niên vụ trước do lượng tồn kho trong niên vụ 2022-2023 chuyển sang chỉ đạt 390.000 bao, giảm mạnh từ mức 3,58 triệu bao của niên vụ 2021-2022.
Do đó, xuất khẩu cà phê nhân của Việt Nam được dự báo sẽ giảm 2,4 triệu bao xuống còn 23 triệu bao. Tồn kho cuối niên vụ 2023-2024 dự kiến vẫn ở mức thấp là 359.000 tấn.
USDA dự báo nhập khẩu cà phê nhân của Liên minh châu Âu (EU) sẽ phục hồi và tăng hơn 2,5 triệu bao so với niên vụ trước lên mức kỷ lục 47 triệu bao trong niên vụ 2023-2024, chủ yếu do xuất khẩu mạnh hơn từ Brazil. Trong khi nhập khẩu cà phê rang và hòa tan không đổi ở mức 1,4 triệu bao và 3,7 triệu bao.
Nhập khẩu cà phê của EU chủ yếu là cà phê nhân chưa rang, chiếm khoảng 90% tỷ trọng. Các nhà cung cấp hàng đầu của khu vực trong niên vụ 2022-2023 (tháng 10 đến tháng 9) gồm Brazil (32%), Việt Nam (26%), Uganda (7%) và Honduras (6%).
EU đã nhập khẩu kỷ lục 49,1 triệu bao vào niên vụ 2021-2022, nhưng giảm 2,6 triệu bao trong vụ 2022-2023 do nhập khẩu từ Brazil giảm mạnh dù được bù đắp phần nào bởi mức tăng từ Việt Nam.
Việc EU nhập khẩu nhiều cà phê từ Việt Nam và giảm mua từ Brazil, cho thấy các nhà rang xay có xu hướng sử dụng nhiều Robusta hơn. Hai quốc gia này chiếm 54 – 58% tổng lượng cà phê nhân nhập khẩu của EU trong 10 năm qua, để lại thị phần hạn chế cho các nhà cung cấp khác.
Giá tiêu hôm nay tăng 500 - 1.000 đồng/kg
![]() |
Giá tiêu hôm nay (17/01), tại thị trường nội địa dao động trong khoảng 78.000 - 81.000 đồng/kg. Trong đó, giá tiêu tại tỉnh Gia Lai tăng 500 đồng/kg, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 1.000 đồng/kg và duy trì ổn định tại các tỉnh còn lại.
Cụ thể, tỉnh Gia Lai và Đồng Nai đang là địa phương có mức giá thấp nhất với 78.000 đồng/kg.
Hồ tiêu tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và tỉnh Bình Phước đang được thu mua với mức giá là 80.000 đồng/kg và 80.500 đồng/kg.
Tương tự, giá tiêu hôm nay tại tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông neo tại mức tương ứng là 81.000 đồng/kg.
Việt Nam đã bắt đầu vào vụ thu hoạch mới ở những vùng hồ tiêu chín sớm. Tuy nhiên, theo đánh giá sẽ không xảy ra hiện tượng nhà nông bán ra ồ ạt như các vụ trước do có sự hỗ trợ của giá nông sản khác như sầu riêng, cà phê tăng cao.
Hiệp hội Hồ tiêu và Cây gia vị Việt Nam dự báo, xuất khẩu hồ tiêu năm 2024 sẽ thuận lợi, giá sẽ tăng do sản lượng giảm. Việt Nam đã xuất khẩu hết sản lượng thu hoạch trong năm 2023, một phần xuất khẩu được lấy đi từ lượng nhập khẩu cũng như tồn kho từ năm trước.
Trên thị trường thế giới, thông tin trên Khmer Times, theo báo cáo của Hiệp hội Xúc tiến Hạt tiêu Kampot (KPPA), trong năm 2023, Campuchia đã xuất khẩu 103 tấn hạt tiêu Kampot, được đăng ký Chỉ dẫn địa lý tại Liên minh châu Âu, ghi nhận mức giảm 11% so với năm 2022.
Ông Nguon Lay - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến Hồ tiêu Kampot, nhận định, đây vẫn là khối lượng xuất khẩu chấp nhận được vì ước tính Hiệp hội bán khoảng 100 đến 110 tấn hồ tiêu mỗi năm.
Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến Hồ tiêu Kampot chia sẻ thêm, khoảng 85% hạt tiêu được vận chuyển sang châu Âu và 15% còn lại được bán sang các nước khác, bao gồm Mỹ, Canada, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.
Nổi tiếng với hương thơm tinh tế và vị cay đậm đà, hạt tiêu Kampot là sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa lý của Campuchia từ năm 2010 và rất được ưa chuộng tại thị trường châu Âu.
Hạt tiêu Kampot có ba loại là đen, đỏ và trắng được bán với giá bán rất cao, lần lượt là 15.000 USD/tấn, 25.000 USD/tấn và 28.000 USD/tấn.
Trong khi đó, giá tiêu đen Việt Nam giao dịch ở khoảng 3.900 USD/tấn với loại 500 g/l, loại 550 g/l mức 4.000 USD/tấn; giá tiêu trắng ở mức 5.700 USD/tấn.
Ghi nhận từ báo cáo của Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản cho thấy, Campuchia đã xuất khẩu 6.125 tấn hạt tiêu vào năm ngoái, giảm 26,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Hồ tiêu được trồng trên 6.935 ha ở Campuchia.
Theo Liên đoàn Hồ tiêu và Gia vị Campuchia, giá tiêu xuất khẩu nước này hiện nay ở mức 3.000 - 3.500 USD/tấn.