Sầu riêng Việt Nam trước yêu cầu chuyển mình từ lượng sang chất
Sầu riêng Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển từ tăng trưởng nhanh sang phát triển bền vững. Những điểm nghẽn về chất lượng, truy xuất và quản trị chuỗi cung ứng đòi hỏi ngành hàng nâng chuẩn sản xuất, kiểm soát chặt vùng trồng và củng cố uy tín trên thị trường quốc tế.
Đối diện thách thức từ tăng trưởng quá nóng
Tại tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn ngành hàng sầu riêng: Kiến tạo xuất khẩu bền vững”, các chuyên gia đã mổ xẻ thực trạng phát triển nhanh chóng của ngành. Theo ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), sầu riêng là ngành hàng phát triển nhanh trong khoảng 10 năm qua, đặc biệt trong 5 năm gần đây. Năm 2015, diện tích sầu riêng cả nước khoảng 31.000 ha, đến năm 2020 tăng lên hơn 70.000 ha. Giai đoạn 2020-2025, diện tích tiếp tục tăng gần 3 lần, lên khoảng 195.000 ha vào cuối năm 2025. Sản lượng tăng từ khoảng 600.000 tấn năm 2020 lên 1,8 triệu tấn năm 2025 và dự kiến vượt 2 triệu tấn trong năm 2026.
Tốc độ tăng trưởng nóng này đặt ra yêu cầu cấp thiết về quản lý vùng trồng, chất lượng, giống, sinh vật gây hại và tổ chức sản xuất, trong đó việc mở rộng diện tích tại những khu vực chưa phù hợp với điều kiện sinh thái đã bộc lộ nhiều bất cập. Nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn trong quản lý, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP, mang đến những thay đổi đáng chú ý về cơ chế cấp và quản lý mã số vùng trồng. Theo đó, quy định diện tích tối thiểu đã được bãi bỏ, đồng thời cho phép cấp mã số đối với cây trồng xen trên cùng thửa đất và phân cấp thẩm quyền về cho cấp xã thay vì cấp tỉnh như trước. Quy trình thực hiện cũng được đơn giản hóa trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, tạo thuận lợi lớn cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp.
Đánh giá sâu hơn về thực tiễn sản xuất, ông Nguyễn Quốc Mạnh cho rằng sự phát triển quá nhanh, thậm chí có thể gọi là “quá nóng”, đã bộc lộ nhiều khó khăn trong quản lý, sản xuất và tiêu thụ sầu riêng. Ông cho biết có những vùng không được khuyến cáo trồng sầu riêng nhưng vẫn phát triển diện tích và chúng ta đã phải trả giá. Song hành với những thách thức đó, ngành hàng cũng đón nhận tín hiệu tích cực khi ông thông tin ngày 14/8, Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) thông báo cấp thêm mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói cho Việt Nam với tổng cộng 567 mã số, gồm 401 mã số vùng trồng và 166 mã số cơ sở đóng gói.
Tiếp nối những bất cập về quy chuẩn thị trường, theo ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, các điểm nghẽn hiện nay tập trung ở chất lượng sản phẩm, năng lực kiểm nghiệm, truy xuất nguồn gốc và thủ tục thông quan. Ông cho rằng chất lượng đang là điểm nghẽn lớn nhất khi các thị trường nhập khẩu ngày càng đưa ra nhiều tiêu chuẩn, quy định khắt khe hơn đối với nông sản, trong đó có yêu cầu về hàm lượng cadimi, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và sinh vật gây hại.
Ông Nguyễn Thanh Bình chia sẻ thêm rằng vấn đề cadimi và vàng O đã được đặt ra từ cuối năm 2024 nhưng đến nay vẫn cần những hướng dẫn, giải pháp cụ thể hơn từ cơ quan chức năng, đồng thời vẫn xuất hiện những vật tư, chế phẩm được sử dụng trong quá trình sản xuất nhưng việc quản lý còn chưa chặt chẽ và chỉ khi kiểm tra mới phát hiện vấn đề. Về năng lực kiểm nghiệm, ông cho biết Việt Nam hiện có 50 cơ sở kiểm nghiệm được phía Trung Quốc công nhận, tuy nhiên tại các vùng sản xuất sầu riêng lớn, đặc biệt là Tây Nguyên, hệ thống cơ sở kiểm nghiệm vẫn còn thiếu, việc phải vận chuyển mẫu đi kiểm nghiệm và thời gian chờ kết quả kéo dài làm gia tăng chi phí cho doanh nghiệp.
Kiến tạo chuỗi giá trị bền vững từ chất lượng
Để giải quyết bài toán cốt lõi, theo ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Vina T&T Group, mã số vùng trồng được ví như “tấm hộ chiếu” của hàng hóa xuất khẩu, do đó quản lý mã số phải chặt chẽ nhưng quy trình cũng cần rõ ràng, thuận lợi để doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân thực hiện. Ông chia sẻ rằng thời gian qua, câu chuyện cadimi trong sầu riêng, đặc biệt tại một số vùng như Đắk Lắk, hay những thông tin liên quan đến sầu riêng ở Đồng bằng sông Cửu Long được đề cập nhiều, tuy nhiên truyền thông không nên né tránh vấn đề nhưng cần bảo đảm thông tin đầy đủ. Ông nhấn mạnh rằng chỉ cần một vấn đề trong quá trình kiểm tra, logistics hay thông quan, hàng trăm container có thể phải quay đầu, không thể tiêu thụ do đặc thù sầu riêng cần thời gian chín, từ đó ông cho rằng ngành sầu riêng cần đẩy mạnh đầu tư vào công nghệ chế biến, đặc biệt là công nghệ cấp đông.
Về phía địa phương, bà Đặng Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở NN&MT Đắk Lắk, cho biết tỉnh Đắk Lắk tổ chức lại sản xuất từ khâu đầu tiên, chuẩn hóa quy trình canh tác, đồng thời ưu tiên giám sát, hậu kiểm để các vùng trồng duy trì đủ điều kiện xuất khẩu. Tỉnh định hướng không chạy theo số lượng mã số mà tập trung vào chiều sâu, tính bền vững; đồng thời nâng cao trách nhiệm của người dân trong ghi chép nhật ký canh tác, tuân thủ quy trình và hạn chế rủi ro về kiểm dịch thực vật, quy định nhập khẩu. Thời gian tới, ngành nông nghiệp tỉnh sẽ tham mưu xây dựng bản đồ nông hóa thổ nhưỡng và bản đồ dinh dưỡng riêng cho sầu riêng, tạo cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý vùng trồng và hỗ trợ nông dân nâng năng suất, chất lượng.
Theo ông Nguyễn Thế Tùng, Tổng giám đốc Queen Farm, người nông dân và vùng trồng phải được đặt ở vị trí trung tâm của chuỗi giá trị vì chất lượng và uy tín xuất khẩu bắt đầu từ đây. Ông cho rằng mô hình “Ba khoa học”, gồm khoa học canh tác, khoa học quản lý và khoa học công nghệ ứng dụng, cần được chuyển giao rộng rãi để người dân nâng kiến thức về thổ nhưỡng, cải tạo đất, chăm sóc cây; đồng thời ông lưu ý cần kiểm soát tình trạng chuyển đổi giống tự phát khi việc nhiều nông dân chuyển từ Ri6 sang Dona khi giá Ri6 giảm có thể dẫn tới mất cân đối cơ cấu giống, gia tăng nguồn cung và ảnh hưởng giá trị sản phẩm.
Về định hướng vĩ mô, theo ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), trong 6 tháng đầu năm, Trung Quốc nhập khẩu khoảng 1,07 triệu tấn sầu riêng, trong đó Thái Lan là nguồn cung lớn nhất với hơn 800.000 tấn, tiếp theo là Việt Nam với khoảng 238.000 tấn, qua đó cho thấy dư địa thị trường còn lớn nhưng cạnh tranh cũng ngày càng rõ nét. Ông nhấn mạnh rằng Việt Nam cần chủ động khai mở thêm các thị trường mới, gắn với tìm hiểu tập quán tiêu dùng, xây dựng thương hiệu, tăng cường thông tin tới người tiêu dùng, đẩy mạnh thương mại điện tử, hoàn thiện chuỗi lạnh và hướng tới việc công nhận lẫn nhau về kiểm dịch với Trung Quốc để tạo thuận lợi cho xuất khẩu.





