Mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng sức cạnh tranh cho gỗ Việt Nam

Thị Trường • 21/10/2026 10:32

Ngành gỗ Việt Nam có cơ hội khẳng định vị thế trung tâm chế biến gỗ toàn cầu, song cần đa dạng hóa thị trường, nâng cao giá trị sản phẩm và tăng khả năng làm chủ chuỗi cung ứng.

Thực trạng phụ thuộc và áp lực từ thị trường

hop1_1792551613.png
Hội nghị Giao ban Xúc tiến thương mại với Hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài tháng 10.

Tại Hội nghị Giao ban Xúc tiến thương mại với Hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài, chủ đề “Đa dạng hóa thị trường, thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm gỗ, nội thất Việt Nam”, ông Ngô Sỹ Hoài, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST), cho biết cả nước có khoảng 6.500 doanh nghiệp hoạt động trong ngành gỗ, trong đó hơn 3.500 cơ sở chế biến và xuất khẩu trực tiếp. Sản phẩm xuất khẩu đa dạng, từ đồ gỗ nội thất, ghế, tủ bếp đến ván gỗ, dăm gỗ, viên nén và các sản phẩm phụ trợ. Năng lực sản xuất, lao động có kỹ năng và nguồn nguyên liệu rừng trồng trong nước là những lợi thế quan trọng.

Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 17,204 tỷ USD, tăng khoảng 5,7% so với năm trước; nhập khẩu đạt 3,22 tỷ USD, chủ yếu phục vụ sản xuất, chế biến. Ngành gỗ xuất siêu khoảng 14 tỷ USD. Sản phẩm gỗ Việt Nam đã tiếp cận 167 thị trường, trong đó Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và Liên minh châu Âu (EU) là những thị trường chủ lực.

Năm 2025, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang Hoa Kỳ đạt 9,46 tỷ USD, chiếm khoảng 55% tổng kim ngạch; Nhật Bản đạt 2,15 tỷ USD, chiếm 12,5%; Trung Quốc đạt 2,09 tỷ USD, chiếm 12,1%; Hàn Quốc đạt 710 triệu USD, chiếm 4,1%; EU đạt 660 triệu USD, chiếm 3,8%. Tuy nhiên, theo ông Hoài, mức độ tập trung thị trường vẫn là vấn đề đáng lưu ý. “Tỷ trọng lớn tại thị trường Hoa Kỳ giúp ngành gỗ duy trì đầu ra xuất khẩu, nhưng đồng thời khiến doanh nghiệp dễ chịu tác động khi chính sách thuế, các cuộc điều tra thương mại hoặc nhu cầu tiêu dùng tại thị trường này thay đổi”, ông Hoài cho hay.

Trong 9 tháng năm 2026, VIFOREST ước tính xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt khoảng 13,28 tỷ USD, tăng 6,2%. Tuy nhiên, nhóm sản phẩm gỗ, chủ yếu là đồ gỗ nội thất và ngoại thất, đạt khoảng 8,56 tỷ USD, gần như đi ngang do thị trường Hoa Kỳ giảm. Tăng trưởng chung chủ yếu đến từ dăm gỗ và các loại ván công nghiệp, cho thấy giá trị từ sản phẩm chế biến sâu chưa tăng tương ứng.

Theo ông Ngô Sỹ Hoài, ngành gỗ Việt Nam có năng lực sản xuất và xuất khẩu thuộc nhóm dẫn đầu thế giới, dựa trên lợi thế về chi phí nhân công và nguồn nguyên liệu rừng trồng trong nước. Tuy nhiên, mô hình sản xuất theo đơn đặt hàng (OEM), trong đó doanh nghiệp chủ yếu gia công cho các nhà nhập khẩu và phân phối quốc tế, vẫn phổ biến. “Nhiều sản phẩm gỗ Việt Nam có chất lượng cao nhưng khi ra thị trường lại mang thương hiệu nước ngoài. Trong khi đó, năng lực thiết kế, phát triển sản phẩm, tiếp thị và phân phối chưa tương xứng với quy mô sản xuất. Điều này khiến doanh nghiệp chưa nắm giữ được đầy đủ giá trị tạo ra trong chuỗi cung ứng”, ông Hoài nói.

Bên cạnh sự phụ thuộc vào thị trường và nhà mua hàng quốc tế, doanh nghiệp còn thiếu nguồn gỗ lớn, chất lượng cao trong nước, đồng thời chịu áp lực từ chi phí vốn, logistics và các yêu cầu tuân thủ. Điều này gây khó khăn cho doanh nghiệp nhỏ trong phát triển mẫu mã, mở rộng thị trường và xây dựng thương hiệu.

Giải pháp đa dạng hóa và nâng tầm giá trị

go_1792551463.jpg
Ngành gỗ Việt Nam tìm dư địa tăng trưởng từ đa dạng hóa thị trường.

Theo Phó Chủ tịch VIFOREST, các quy định và tiêu chuẩn như: EUTR (Tiêu chuẩn về gỗ của EU), VPA/FLEGT (Hiệp định Đối tác tự nguyện giữa Việt Nam và EU về thực thi luật lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản), EUDR (Quy định chống phá rừng của EU), CITES (Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp)… đặt ra yêu cầu về tính hợp pháp, nguồn gốc nguyên liệu và trách nhiệm môi trường. Việc đáp ứng các yêu cầu này trở thành một phần quan trọng trong quá trình tiếp cận và duy trì thị trường xuất khẩu.

Ngành gỗ cần đa dạng hóa thị trường, duy trì thị phần truyền thống và tìm kiếm khách hàng, kênh phân phối mới. Với Hoa Kỳ, doanh nghiệp cần quản trị rủi ro về thuế, xuất xứ hàng hóa và nâng cấp giá trị sản phẩm. Tại EU và Anh, việc tận dụng các hiệp định thương mại tự do cần gắn với tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc. Với Nhật Bản và Hàn Quốc, chất lượng, uy tín giao hàng, mẫu mã và vật liệu kỹ thuật là những yếu tố cần được chú trọng.

Tại Trung Đông, doanh nghiệp có thể kết nối với các nhà thầu, chủ đầu tư dự án khách sạn, bất động sản và hệ thống đại lý. Ở ASEAN và Australia, doanh nghiệp có thể tiếp cận chuỗi bán lẻ, lựa chọn phân khúc phù hợp và khai thác lợi thế logistics. VIFOREST xác định hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài giữ vai trò hỗ trợ cung cấp thông tin, kết nối đối tác, xác minh nhà mua hàng, cảnh báo rủi ro và theo dõi cơ hội sau kết nối.

“Việc phối hợp giữa Cục Xúc tiến thương mại, hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài, VIFOREST, các hiệp hội và doanh nghiệp được đặt trong cùng một định hướng. Trong đó, cơ quan xúc tiến thương mại giữ vai trò tổ chức chương trình, lựa chọn thị trường và kết nối nguồn lực; Thương vụ hỗ trợ mở cửa thị trường, kết nối người mua; còn hiệp hội và doanh nghiệp chuẩn bị sản phẩm, năng lực cung ứng, mẫu mã, thương hiệu và phản hồi nhu cầu thị trường”, ông Hoài nhấn mạnh.

Theo VIFOREST, sức cạnh tranh của ngành gỗ ngày càng phụ thuộc vào chất lượng, thiết kế, trải nghiệm sản phẩm và trách nhiệm môi trường, thay vì chỉ dựa vào giá rẻ. Công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI) có thể hỗ trợ phát triển mẫu mã, trong khi các kênh số giúp doanh nghiệp tiếp cận khách hàng trực tiếp.

Định hướng đến năm 2030 là từng bước chuyển từ OEM sang ODM và OBM. “Nếu OEM chủ yếu thực hiện gia công theo đơn hàng, ODM hướng tới tự thiết kế và phát triển sản phẩm, còn OBM là phát triển thương hiệu và thị trường riêng. Quá trình chuyển đổi này gắn với yêu cầu xây dựng thương hiệu gỗ và nội thất Việt Nam, phát triển kênh phân phối trực tiếp và nâng khả năng làm chủ chuỗi giá trị”, Phó Chủ tịch VIFOREST nhấn mạnh.

Cùng với đó, phát triển rừng trồng gỗ lớn, bảo đảm nguồn gỗ hợp pháp, truy xuất được nguồn gốc và liên kết các phân khúc dăm gỗ, viên nén, ván, đồ mộc sẽ góp phần nâng cao giá trị nguyên liệu. VIFOREST đề xuất trong 90 ngày tới, các bên lựa chọn từ 5 - 7 thị trường ưu tiên, bố trí đầu mối phối hợp giữa Thương vụ và hiệp hội, xây dựng hồ sơ số cùng câu chuyện thương hiệu cho doanh nghiệp Việt Nam. Các cảnh báo thương mại cần được cung cấp theo nhu cầu; cơ hội kết nối người mua phải được xác thực và theo dõi sau sự kiện. Kế hoạch xúc tiến thương mại năm 2027 cần gắn với các hội chợ và đoàn doanh nghiệp tham gia.

Theo ông Ngô Sỹ Hoài, để gỗ Việt thôi “áo gấm đi đêm”, doanh nghiệp cần từng bước làm chủ chuỗi giá trị, từ thiết kế, phát triển sản phẩm đến xây dựng thương hiệu và mở rộng kênh phân phối trực tiếp. Cùng với sự đồng hành của Cục Xúc tiến thương mại, hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài, VIFOREST và cộng đồng doanh nghiệp, sản phẩm gỗ Việt Nam sẽ được nhận diện rõ hơn trên thị trường quốc tế, mang theo bản sắc văn hóa Việt, tinh thần thủ công và giá trị của vật liệu bền vững.

Mai Hương
Tin đáng đọc