11,43 triệu tỉ đồng "ngủ đông" tại ngân hàng: Nghịch lý tiền dồi dào nhưng khó giảm lãi suất
Tiền nhàn rỗi của người dân đang ồ ạt chảy vào hệ thống ngân hàng, đẩy lượng tiền gửi lên mức kỷ lục trong bối cảnh các kênh đầu tư khác chững lại. Tuy nhiên, đà tăng của lãi suất huy động lại đang tạo ra áp lực lớn đối với mục tiêu giảm lãi suất cho vay, đặt ra bài toán khó trong việc khơi thông nguồn vốn hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh.
Dòng tiền nhàn rỗi ồ ạt chảy vào hệ thống ngân hàng
Theo số liệu mới nhất từ Ngân hàng Nhà nước, tính đến cuối tháng 8-2026, tổng phương tiện huy động từ tổ chức kinh tế và dân cư tại các tổ chức tín dụng đạt khoảng 17,77 triệu tỉ đồng, tăng gần 1,26 triệu tỉ đồng (tương đương 7,6%) so với thời điểm cuối năm 2025.
Động lực tăng trưởng chính của dòng vốn này tiếp tục đến từ khu vực dân cư. Số dư tiền gửi của người dân đã chạm mức kỷ lục 11,43 triệu tỉ đồng, tăng liên tục từ đầu năm và chiếm tới 64,34% tổng tiền gửi toàn hệ thống. Trong khi đó, dòng tiền của khối tổ chức kinh tế dù có dấu hiệu phục hồi trong tháng 8 (đạt 6,34 triệu tỉ đồng) nhưng vẫn cho thấy sự biến động thất thường và kém ổn định hơn so với tiền gửi dân cư.
Sức hút của kênh tiết kiệm phần lớn đến từ mặt bằng lãi suất huy động liên tục đi lên. Dù có những đợt điều chỉnh, thực tế nhiều ngân hàng tư nhân (như Sacombank, VPBank, LPBank, SHB, HDBank...) vẫn đang đưa ra mức lãi suất vô cùng hấp dẫn, dao động từ 7-9%/năm cho các khoản tiền gửi kỳ hạn từ 6-12 tháng, thậm chí cao hơn nếu thỏa thuận trực tiếp. Thêm vào đó, việc giải ngân đầu tư công được đẩy mạnh cùng sự kém hấp dẫn của các kênh đầu tư rủi ro như bất động sản, vàng hay tiền số đã củng cố vững chắc vị thế "trú ẩn an toàn" của hệ thống ngân hàng.
Sức ép từ chi phí vốn và biến động vĩ mô
Huy động vốn dồi dào nhưng lại đi kèm với chi phí đắt đỏ, khiến các nhà băng rơi vào thế khó khi muốn giảm lãi suất cho vay. Dữ liệu cho thấy tính đến ngày 30-9-2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 20,75 triệu tỉ đồng, tăng 11,59% so với cuối năm 2025 – tốc độ tăng trưởng tín dụng đang cao hơn hẳn so với tốc độ huy động vốn, tạo sức ép thanh khoản nhất định cho giai đoạn cuối năm.
TS Nguyễn Đức Độ, Phó viện trưởng Viện Kinh tế tài chính nhận định, các ngân hàng hoạt động theo cơ chế thị trường, nếu phải ép giảm lãi suất cho vay trong khi chi phí đầu vào vẫn cao, biên lợi nhuận sẽ bị thu hẹp đáng kể. Điều này có thể dẫn đến tác dụng ngược, khiến ngân hàng trở nên thận trọng và dè dặt hơn trong việc cấp tín dụng cho nền kinh tế.
Không chỉ chịu áp lực từ chi phí huy động nội địa, mặt bằng lãi suất còn chịu tác động từ các yếu tố vĩ mô quốc tế. TS Châu Đình Linh (Trường đại học Ngân hàng TP.HCM) chỉ ra rằng diễn biến lạm phát, giá năng lượng, chi phí logistics và đặc biệt là chính sách điều hành của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) ảnh hưởng trực tiếp đến tỉ giá. Nếu giảm lãi suất VND quá nhanh trong khi lãi suất USD vẫn neo cao, sự chênh lệch này sẽ gây sức ép rất lớn lên dòng vốn quốc tế và tỉ giá trong nước.
Giải pháp khơi thông nguồn vốn cho khu vực sản xuất
Trước bối cảnh dư địa giảm lãi suất điều hành không còn nhiều, các chuyên gia cho rằng việc giảm đồng loạt trên diện rộng là thiếu khả thi. Thay vào đó, chính sách tín dụng cần sự phân hóa rõ nét, tập trung các gói vay ưu đãi vào những lĩnh vực ưu tiên, có mức độ rủi ro thấp.
Để giải quyết tận gốc vấn đề chi phí vốn, TS Nguyễn Đức Độ đề xuất phương án sử dụng ngân sách nhà nước để hỗ trợ lãi suất, qua đó chia sẻ gánh nặng với ngân hàng và giảm chi phí vay thực tế cho doanh nghiệp. Dù vậy, cơ chế này đòi hỏi tính minh bạch cao, yêu cầu doanh nghiệp phải đáp ứng được các tiêu chuẩn kiểm toán khắt khe.
Ở góc độ thực tiễn từ tổ chức tín dụng, ông Nguyễn Thanh Tùng - Chủ tịch HĐQT Vietcombank - chia sẻ một thực trạng đáng lưu tâm: doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tới 98% số lượng nhưng lại chỉ tiếp cận được khoảng 20% tổng dư nợ tín dụng. Việc cào bằng hỗ trợ sẽ làm nguồn lực Nhà nước bị phân tán. Do đó, định hướng cốt lõi không phải là bơm vốn dàn trải, mà cần tập trung nguồn lực tạo điều kiện để các doanh nghiệp vừa và nhỏ kết nối vào hệ sinh thái chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn.
Đồng thời, bản thân các doanh nghiệp cũng cần chủ động tái cấu trúc, rà soát lại dòng tiền, quản lý chặt chẽ hàng tồn kho và thanh lý tài sản kém hiệu quả để tự gia tăng năng lực tài chính, sẵn sàng các kịch bản ứng phó thay vì chỉ bị động chờ đợi lãi suất giảm.







