Ngành dừa chuyển đổi trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường
Để ngành dừa phát triển theo hướng phát thải thấp, đáp ứng các tiêu chuẩn xanh của thị trường quốc tế, cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ cơ chế, chính sách, khoa học công nghệ đến doanh nghiệp và người sản xuất, qua đó hình thành chuỗi giá trị bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đối mặt thách thức từ yêu cầu thị trường quốc tế
Chia sẻ trên Báo Vĩnh Long, bà Nguyễn Thị Kim Thanh - Chủ tịch Hiệp hội Dừa Việt Nam cho biết, cây dừa đang chịu tác động ngày càng rõ nét của xâm nhập mặn, thời tiết cực đoan và sự gia tăng của các đối tượng sâu bệnh. Trong khi đó, thị trường xuất khẩu liên tục nâng cao yêu cầu về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon và tiêu chuẩn sản xuất xanh. Điều này buộc ngành dừa phải thay đổi phương thức canh tác theo hướng giảm sử dụng hóa chất, áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), tăng cường sử dụng chế phẩm sinh học và bảo vệ hệ sinh thái vườn dừa.
Việc điều chỉnh quy trình sản xuất không chỉ đơn thuần nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật mà còn là sự thay đổi tư duy của người nông dân và doanh nghiệp trong chuỗi liên kết. Khi các thị trường khó tính đặt ra những rào cản khắt khe, việc tuân thủ quy trình canh tác nghiêm ngặt trở thành “tấm vé thông hành” quan trọng để nông sản có thể vươn xa. Những nỗ lực từ chính sách đến thực tiễn canh tác tại địa phương đang từng bước định hình diện mạo mới cho ngành dừa, nơi giá trị xanh được đặt lên trên sản lượng thu hoạch thuần túy.
Bên cạnh đó, việc cấp mã số vùng trồng đã trở thành yêu cầu bắt buộc để nông sản có thể xuất khẩu chính ngạch. Đây là bước đệm quan trọng giúp người sản xuất thay đổi thói quen ghi chép nhật ký canh tác điện tử. Sự minh bạch trong quá trình sản xuất thông qua hệ thống truy xuất nguồn gốc không chỉ giúp nâng cao uy tín thương hiệu dừa Việt trên bản đồ thế giới, mà còn tạo nền tảng để ngành nông nghiệp chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phát triển theo mục tiêu sinh thái và hiện đại mà Trung ương Đảng khóa XIII đã đề ra trong giai đoạn mới.
Đồng bộ giải pháp phát triển chuỗi giá trị bền vững
Để tiến bộ khoa học đi vào thực tiễn, nhiều doanh nghiệp đã chuyển từ mô hình thu mua truyền thống sang đầu tư trực tiếp vào vùng nguyên liệu, đồng hành cùng nông dân trong toàn bộ quá trình canh tác. Trong đó, Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Bến Tre là đơn vị tiên phong xây dựng chuỗi liên kết hữu cơ. Thông qua liên kết với Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp công bằng Hưng Lễ, doanh nghiệp đã hình thành hơn 450 ha dừa đạt chứng nhận hữu cơ và thương mại công bằng. Bên cạnh hỗ trợ kỹ thuật và chứng nhận quốc tế, đơn vị còn trích quỹ phúc lợi cộng đồng để đầu tư hạ tầng nông thôn, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.
ThS Nguyễn Ngọc Trai - Phó Trưởng Khoa Nông nghiệp - Thủy sản, Giám đốc Trung tâm Sinh học ứng dụng, Phó Viện trưởng Viện Dừa ĐBSCL cho biết, việc ứng dụng công nghệ sinh học, đặc biệt là kỹ thuật nuôi cấy phôi, đã tạo bước đột phá trong chọn tạo và nhân giống dừa sáp, giúp nâng tỷ lệ sáp lên trên 80%, rút ngắn thời gian sinh trưởng, nâng cao chất lượng cây giống và mang lại giá trị kinh tế vượt trội cho người sản xuất. Bên cạnh đó, các nghiên cứu về giống chịu mặn, quy trình canh tác giảm phát thải, tận dụng phụ phẩm để phát triển kinh tế tuần hoàn và chế biến sâu đang tạo tiền đề quan trọng cho sự phát triển bền vững của ngành.
Sự đồng hành của doanh nghiệp đang tạo động lực để nhiều địa phương đẩy mạnh xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn. Hiện địa phương có diện tích dừa lớn nhất cả nước với hơn 122.000 ha, trong đó gần 36.000 ha đạt chứng nhận hữu cơ và hơn 81.000 ha sản xuất theo hướng ứng dụng công nghệ cao. Tại xã Tiểu Cần, gần 800 hộ dân với hơn 440 ha dừa đã đạt chứng nhận hữu cơ quốc tế. Ông Nguyễn Văn Tám - Bí thư Đảng ủy xã Tiểu Cần cho biết, địa phương đang phối hợp với doanh nghiệp xây dựng vùng nguyên liệu khoảng 1.000 ha gắn với mã số vùng trồng nhằm tổ chức sản xuất bài bản, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.
Để hỗ trợ nông dân chuyển đổi, cùng với khoa học và doanh nghiệp thì nguồn vốn tín dụng chính sách là nguồn lực quan trọng. Ông Dương Văn Khén - Giám đốc Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Cầu Kè cho biết, 6 tháng đầu năm 2026, đơn vị đã giải ngân hơn 116 tỷ đồng cho hơn 2,3 nghìn lượt hộ vay, với tổng dư nợ trên 634 tỷ đồng. Đơn vị tiếp tục ưu tiên nguồn vốn cho các mô hình phát triển vùng nguyên liệu dừa, cải tạo vườn cây ăn trái và nông nghiệp xanh.
Nông dân Huỳnh Văn Đức (Ấp I, xã Phong Thạnh) sử dụng hiệu quả nguồn vốn để sản xuất. Năm 2016, ông vay 50 triệu đồng để cải tạo 6 công vườn tạp, đầu tư trồng dừa sáp cấy phôi. Đến nay, vườn dừa đã có 120 gốc, mang lại lợi nhuận khoảng 60–70 triệu đồng/năm. Trong khi đó, ông Khưu Chí Cường - Chủ tịch Hội Nông dân xã Phong Thạnh cho biết, nguồn vốn tín dụng chính sách đã giúp hội viên phát triển mô hình dừa sáp, lúa chất lượng cao và nuôi thủy sản. Đồng thời, các tổ hội nghề nghiệp còn hỗ trợ nông dân chia sẻ kinh nghiệm, liên kết sản xuất và tham gia chuỗi giá trị.
Thực tiễn cho thấy, khi có sự hỗ trợ bài bản từ khoa học công nghệ, nguồn vốn và sự bao tiêu của doanh nghiệp, người nông dân hoàn toàn có thể làm giàu ngay trên chính mảnh đất của mình, đồng thời đảm bảo sự phát triển bền vững lâu dài cho ngành hàng. Đây cũng là minh chứng rõ nét cho hướng đi tất yếu của nền kinh tế nông nghiệp xanh trong tương lai.







