Ngành cao su hướng tới sản phẩm đạt chuẩn EUDR
Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) đang đặt ra yêu cầu khắt khe về truy xuất nguồn gốc cho ngành cao su Việt Nam. Để duy trì thị phần và nâng cao giá trị chuỗi cung ứng, việc chủ động tuân thủ tiêu chuẩn này là một xu hướng phát triển tất yếu.
Khó khăn trong truy xuất nguồn gốc nguyên liệu cao su
Tại Hội thảo tham vấn góp ý dự thảo tài liệu Hướng dẫn tuân thủ Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) cho ngành cao su Việt Nam, bức tranh về những rào cản lớn đối với sản xuất đã được chỉ rõ. Xét về thương mại trong năm 2025, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành ghi nhận mức ấn tượng 11,45 tỷ USD. Trong đó, Liên minh châu Âu là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba với giá trị 772,2 triệu USD, chiếm khoảng 9,2% tổng kim ngạch. Dù đòi hỏi khắt khe, đây vẫn là khu vực có sức mua ổn định nhờ ưu đãi từ hiệp định thương mại tự do.
Quy định mới đang tạo ra sức ép chưa từng có đối với ngành cao su. Theo đó, các sản phẩm cao su (không áp dụng với gỗ cao su khi xuất khẩu) phải chứng minh không liên quan đến phá rừng hoặc suy thoái rừng sau ngày 31/12/2020. Yêu cầu truy xuất nguồn gốc trở thành yếu tố then chốt, trong đó lô đất từ 4 ha trở xuống được cung cấp một điểm tọa độ địa lý; diện tích trên 4 ha bắt buộc phải cung cấp toàn bộ tọa độ tạo thành hình đa giác khép kín bao quanh lô đất.
Ông Tô Văn Huấn - Đại diện Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, theo EUDR, các sản phẩm như gỗ, cà phê, cao su, ca cao, dầu cọ, gia súc và nhiều sản phẩm phái sinh muốn vào thị trường EU phải đáp ứng ba yêu cầu cốt lõi gồm: không gây mất rừng sau ngày 31/12/2020; được sản xuất hợp pháp theo pháp luật quốc gia; đồng thời có hồ sơ thẩm định trách nhiệm và khả năng truy xuất nguồn gốc đầy đủ.
Khái niệm suy thoái rừng được hiểu rất chặt chẽ, bao gồm cả việc chuyển đổi rừng nguyên sinh hoặc tái sinh tự nhiên thành rừng trồng. Ngoài ra, quy định còn đòi hỏi tính hợp pháp về quyền sử dụng đất, quyền lao động và nguyên tắc đồng thuận của cộng đồng bản địa. Khu vực tiểu điền là thách thức lớn nhất khi chiếm 54% diện tích nhưng nắm giữ tới 87,8% diện tích thu hoạch và đóng góp từ 62% đến 62,6% tổng sản lượng cả nước. Việc sản xuất nhỏ lẻ khiến các hộ gặp khó trong lập hồ sơ. Chuỗi cung ứng đầu vào cũng rất đa dạng, bao gồm cả cao su nhập từ Campuchia, Lào rồi phối trộn sản xuất.
Ông Nguyễn Quốc Mạnh - Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật chia sẻ: “Năm 2025, Việt Nam có hơn 914 nghìn ha cao su với sản lượng khoảng 1,348 triệu tấn. Tuy nhiên, quá trình thích ứng với EUDR vẫn gặp nhiều khó khăn do phần lớn diện tích cao su tiểu điền còn thiếu dữ liệu nền, hồ sơ đất đai chưa hoàn thiện, dữ liệu địa chính chưa đồng bộ và năng lực thực thi của doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân còn hạn chế”.
Ông Nguyễn Quốc Mạnh nhấn mạnh thêm về áp lực thời gian: “Qua các cuộc làm việc với phía EU, có thể khẳng định EUDR sẽ chính thức được thực thi từ ngày 1/1/2027. Thời gian chuẩn bị không còn nhiều, vì vậy việc hoàn thiện tài liệu hướng dẫn có ý nghĩa rất quan trọng để doanh nghiệp và địa phương có căn cứ triển khai thống nhất”.
Giải pháp đồng bộ nhằm minh bạch hóa chuỗi cung ứng
Việt Nam hiện được xếp vào nhóm quốc gia rủi ro thấp. Thời điểm thực thi được lùi đến 30/12/2026 với doanh nghiệp thông thường và 30/6/2027 với doanh nghiệp nhỏ. Mục tiêu trong 5 tháng cuối năm 2026 là các đơn vị có thể vận hành hướng dẫn. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng cơ sở dữ liệu với ba hợp phần gồm ranh giới rừng, vùng trồng và hệ thống truy xuất.
Ban soạn thảo cũng linh hoạt cho phép nông hộ ủy quyền thu thập tọa độ, lược bỏ yêu cầu lưu trữ hồ sơ 5 năm ở đầu chuỗi, thay cơ chế cân bằng khối lượng bằng tách biệt vật lý và bổ sung mẫu xác nhận quyền sử dụng đất của cấp xã. Cơ quan quản lý cũng đang vận động hỗ trợ từ GIZ, IDH, FAO và Forest Trends. Đánh giá về tiến trình chuẩn bị cơ sở hạ tầng, ông Nguyễn Quốc Mạnh cho biết: "Việt Nam đang khẩn trương hoàn thiện thể chế, cơ sở dữ liệu và hệ thống truy xuất nguồn gốc để hỗ trợ ngành cao su đáp ứng EUDR trước thời điểm chính thức áp dụng".
Ở khối doanh nghiệp lớn, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam quản lý khoảng 377.000 ha đã ban hành Chiến lược tăng trưởng xanh giai đoạn 2023–2030. Trong năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, Tập đoàn xuất bán 10.000 tấn mủ đạt chuẩn. Giá bán cao hơn mủ thông thường từ 120 USD đến 250 USD mỗi tấn, mang lại giá trị cộng thêm ước tính từ 30 tỷ đồng đến khoảng 70–80 tỷ đồng.
Phó trưởng ban Công nghiệp Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, ông Diệp Xuân Trường cho biết, đến tháng 6/2026, Tập đoàn có 39 đơn vị đã có đủ hồ sơ minh chứng theo quy định của EUDR với tổng diện tích khoảng 305.000 ha đến 305.905 ha, chiếm khoảng 81% diện tích toàn Tập đoàn. Trong đó, 23 đơn vị với hơn 210.304 ha đã được cấp chứng nhận PEFC-EUDR hoặc được đối tác công nhận.
Ông Võ Hoàng An - Tổng thư ký Hiệp hội Cao su Việt Nam nhận định: "Hiện nay, nhiều doanh nghiệp đã chủ động xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc, số hóa bản đồ vùng trồng, áp dụng các tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững và điều chỉnh hệ thống quản trị nội bộ. Bên cạnh đó, doanh nghiệp FDI tăng cường liên kết với hộ tiểu điền để thu thập dữ liệu đất đai, trong khi doanh nghiệp tư nhân mở rộng chuỗi liên kết với nông hộ. Xu hướng chung của toàn ngành là đẩy mạnh số hóa và minh bạch chuỗi cung ứng".
Nhằm tháo gỡ điểm nghẽn, Hiệp hội kiến nghị xây dựng nền tảng truy xuất quốc gia dùng chung và đề xuất EU có thời gian chuyển tiếp từ 2 đến 3 năm cho tiểu điền để tránh đứt gãy cung ứng. “Việc tích cực đối thoại chính sách và tận dụng các chương trình hỗ trợ kỹ thuật, tài chính từ EU sẽ là chìa khóa để ngành cao su Việt Nam vượt qua thách thức, nâng cao uy tín và đảm bảo phát triển bền vững trong thời kỳ mới”, ông Võ Hoàng An nhấn mạnh.







