Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản đã cập nhật hơn 158.000 sản phẩm

Sản phẩm 23/08/2026 08:40

Sau gần 2 tháng chính thức vận hành, Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản quốc gia đã ghi nhận 158.234 sản phẩm thuộc 18.524 dòng sản phẩm của 200 doanh nghiệp và 2.948 hộ dân, hợp tác xã tại 24/34 tỉnh, thành phố.

sau_1787414141.webp
Hoàn thiện TXNG sầu riêng theo chuỗi, kết nối dữ liệu về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, kiểm nghiệm, kiểm dịch và lô hàng xuất khẩu. ẢNH: PHAN HẬU

Gần 49.000 sản phẩm đã thực hiện truy xuất nguồn gốc

Trưa 22/8, Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN-MT) thông tin về kết quả xây dựng và vận hành Hệ thống truy xuất nguồn gốc (TXNG) nông, lâm, thủy sản. Hệ thống TXNG nông sản được Bộ NN-MT công bố và chính thức đưa vào sử dụng từ ngày 1/7/2026.

Kể từ thời điểm chính thức vận hành, đã có 9 doanh nghiệp cung cấp giải pháp công nghệ TXNG thực hiện kết nối với Hệ thống TXNG nông sản của Bộ. Bên cạnh đó, 4 doanh nghiệp sản xuất, thương mại nông sản gồm Thaibinh Seed, Lộc Trời, Masan và Thiên Vương đã kết nối hệ thống TXNG do doanh nghiệp tự phát triển với hệ thống của Bộ.

Tổng cộng, 48.754 sản phẩm thuộc 9 dòng sản phẩm của 19 doanh nghiệp đã thực hiện TXNG và cập nhật dữ liệu vào Hệ thống TXNG của Bộ.

Ở quy mô lũy kế, kể từ khi Bộ NN-MT công bố Hệ thống TXNG nông sản, đã có thêm 9 đơn vị cung cấp giải pháp công nghệ TXNG gửi hồ sơ đăng ký kết nối. Các hồ sơ hiện đang được xem xét, phê duyệt để triển khai kết nối theo quy định.

Đồng thời, thêm 5 tỉnh, thành phố báo cáo kết quả triển khai TXNG nông sản, nâng tổng số địa phương đã có báo cáo lên 24/34 tỉnh, thành phố. Tổng dữ liệu do các đơn vị cung cấp giải pháp TXNG và các tỉnh, thành phố kết nối, cập nhật vào hệ thống của Bộ đạt 158.234 sản phẩm thuộc 18.524 dòng sản phẩm, của 200 doanh nghiệp và 2.948 hộ dân, hợp tác xã tại 24/34 tỉnh, thành phố.

Trong số các địa phương, Hà Nội có hệ thống TXNG của thành phố với trên 3.000 cơ sở và trên 12.000 sản phẩm. Khoảng 5% sản phẩm trong số này đã đáp ứng đầy đủ thông tin theo yêu cầu kết nối của Hệ thống TXNG Bộ.

Tại Thái Nguyên, hệ thống quản lý chất lượng nông sản có 533 tài khoản, 5.136 cơ sở, 222 vùng sản xuất và quản lý 149 mã số vùng trồng. Có 6 doanh nghiệp, hợp tác xã đáp ứng kết nối với Hệ thống của Bộ.

Hưng Yên đã kết nối, tích hợp và đồng bộ dữ liệu qua API, với 536 đơn vị, 1.179 sản phẩm và 76 lô sản xuất. Quảng Ninh đã đồng bộ 1.097 cơ sở, 2.689 sản phẩm và 78 lô sản xuất, đạt 100% dữ liệu sẵn có trên hệ thống của tỉnh. Trong khi đó, Đắk Lắk bước đầu thực hiện kết nối, đồng bộ dữ liệu của một hợp tác xã sản xuất sầu riêng với Hệ thống TXNG của Bộ.

Hoàn thiện truy xuất sầu riêng theo chuỗi

Về hạ tầng kỹ thuật, Bộ NN-MT đã bố trí 40 máy chủ phục vụ triển khai thử nghiệm Hệ thống TXNG. Hai nền tảng gồm txng.mae.gov.vn dành cho người dân và qtrtxng.mae.gov.vn dành cho cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các chủ thể tham gia chuỗi đã được công bố và đánh giá đáp ứng yêu cầu an toàn thông tin.

Hệ thống được xây dựng gồm 3 hợp phần chính là hợp phần dành cho người dân truy xuất, hợp phần quản trị phục vụ cơ quan quản lý, doanh nghiệp, các chủ thể tham gia chuỗi và ứng dụng cài đặt trên điện thoại di động, thiết bị thông minh. Theo kết quả kiểm thử, hệ thống có khả năng đáp ứng khoảng 1.000 lượt tra cứu/giây, 30.000 người quét tem truy xuất đồng thời, trên 85 triệu lượt quét tem truy xuất mỗi ngày và khoảng 50 bản tin dữ liệu dung lượng 2 MB/giây.

Bộ NN-MT cũng đã ban hành tài liệu hướng dẫn kỹ thuật về chuẩn kết nối, truyền nhận dữ liệu phiên bản 1.0, tạo cơ sở để các địa phương, doanh nghiệp kết nối với Hệ thống TXNG của Bộ.

Về kết nối với các nền tảng, cổng thông tin quốc gia, Bộ đã kết nối kỹ thuật với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia do Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý, vận hành theo quy định tại Nghị định số 37/2026/NĐ-CP. Đồng thời, Bộ đã thống nhất kế hoạch kết nối Hệ thống TXNG nông sản với nền tảng quốc gia do C12, Bộ Công an xây dựng và sẵn sàng thực hiện kết nối khi nền tảng này được công bố chính thức.

Trong thời gian tới, Bộ NN-MT xác định nhiệm vụ trọng tâm là hoàn thành việc tiếp nhận và quản trị hệ thống; kiểm kê đầy đủ mã nguồn, tài liệu, tài khoản, quyền quản trị và các thành phần kỹ thuật; đồng thời hoàn thiện quy trình vận hành, sao lưu, giám sát và xử lý sự cố.

Bộ cũng sẽ chuẩn hóa dữ liệu và kết nối, thống nhất bộ chỉ tiêu, nguồn số liệu, phương pháp tính; hoàn thiện chuẩn dữ liệu, API, quy trình kiểm thử, xác nhận kết nối và đối soát dữ liệu. Cùng với đó, Bộ sẽ đẩy nhanh kết nối với các địa phương, ưu tiên những địa phương đã có dữ liệu, hệ thống và sản phẩm chủ lực; thực hiện nguyên tắc kế thừa hệ thống hiện có, dữ liệu tạo lập một lần được khai thác, sử dụng nhiều lần.

Một nhiệm vụ trọng tâm khác là hoàn thiện TXNG sầu riêng theo chuỗi, kết nối dữ liệu về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, kiểm nghiệm, kiểm dịch và lô hàng xuất khẩu. Trên cơ sở đó, Bộ NN-MT sẽ lựa chọn các sản phẩm chủ lực để mở rộng.

Bộ cũng tiếp tục kết nối liên ngành, liên thông quốc gia, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng các cơ quan liên quan về định danh, xác thực, tiêu chuẩn, chuẩn dữ liệu, an toàn thông tin và chia sẻ dữ liệu; đồng thời rà soát các dự án đầu tư và nhiệm vụ khoa học, công nghệ liên quan đến TXNG nông sản theo quy định.

Từ những kết quả và nhiệm vụ trên, Bộ NN-MT đề xuất Thủ tướng chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tiếp tục thúc đẩy kết nối, liên thông các nền tảng, hệ thống TXNG và cơ sở dữ liệu có liên quan. Bộ cũng kiến nghị rà soát, chuẩn hóa, kết nối và chia sẻ dữ liệu thuộc phạm vi quản lý để phục vụ truy xuất nguồn gốc hàng hóa, ưu tiên dữ liệu gốc, dữ liệu chuyên ngành phục vụ xác thực, đối soát.

Việc triển khai được đặt theo hướng kế thừa các hệ thống, dữ liệu hiện có, thực hiện nguyên tắc dữ liệu tạo lập một lần, sử dụng nhiều lần, không đầu tư trùng lặp.

Ngọc Anh
Tin đáng đọc