Việt Nam - Ấn Độ: Mở dư địa mới cho xuất khẩu và đầu tư chiến lược
Việc nâng cấp quan hệ Việt Nam - Ấn Độ mở ra dư địa hợp tác lớn về công nghệ, dược phẩm, năng lượng xanh, xuất khẩu và đầu tư chiến lược.
Công nghệ số, dược phẩm và năng lượng xanh trở thành “tam giác tăng trưởng” mới
- Thưa chuyên gia, chuyến thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm diễn ra trong bối cảnh kim ngạch thương mại song phương liên tục tăng trưởng mạnh. Theo ông, chuyến thăm lần này sẽ mở ra những cơ hội mới nào cho hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư giữa Việt Nam - Ấn Độ, đặc biệt trong các lĩnh vực xuất khẩu chiến lược?
TS.Nguyễn Minh Phong: Việt Nam và Ấn Độ thiết lập quan hệ hữu nghị truyền thống từ năm 1972 và Đối tác chiến lược toàn diện từ năm 2016. Trong chuyến thăm Ấn Độ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từ ngày 5 - 7/5/2026 hai bên đã nâng cấp thành quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường, góp phần tạo đột phá và thiết lập khuôn khổ mới cho quan hệ song phương trong giai đoạn phát triển mới.
Hiện nay, Ấn Độ là đối tác thương mại lớn thứ 8 của Việt Nam, còn Việt Nam là đối tác lớn thứ 21 của Ấn Độ (đứng thứ 4 trong ASEAN). Kim ngạch thương mại hai chiều được kỳ vọng đạt 25 tỷ USD vào năm 2030 so với mức đạt 16,46 tỷ USD năm 2025 và trong 3 tháng đầu năm 2026 đạt 4,8 tỷ USD, tăng 28% so với cùng kỳ năm trước.
Tính đến tháng 3/2026, Ấn Độ có 503 dự án còn hiệu lực tại Việt Nam, với tổng vốn đăng ký gần 1,12 tỷ USD, tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo, năng lượng và khai khoáng, hiện diện tại 20 tỉnh, thành phố. Hai nước đang duy trì gần 100 chuyến bay mỗi tuần, với gần 800.000 lượt khách Ấn Độ đến Việt Nam trong năm 2025.
Về tổng thể, số lượng các lĩnh vực mà Ấn Độ và Việt Nam cùng hợp tác đã không ngừng gia tăng, cả trong thương mại và chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển nguồn nhân lực, logistics, phát triển cảng biển và năng lượng.
Trong thời gian tới, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Ấn Độ còn nhiều dư địa phát triển, đặc biệt trong các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo (AI) và thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân.
Ấn Độ hiện nằm trong nhóm 10 đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Đầu tư hai chiều tiếp tục mở rộng với gần 500 dự án, đồng thời còn nhiều dư địa để hai nước tiếp tục có những bước hợp tác bứt phá.
Đặc biệt, Việt Nam và Ấn Độ đang mở rộng mạnh hợp tác sang các lĩnh vực mới như khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, năng lượng sạch và dữ liệu vệ tinh. Bên cạnh đó, trao đổi văn hóa, giao lưu nhân dân của hai nước cũng đang có bước phát triển mạnh mẽ.
Hiện nay, hai nước có hơn 20 cơ chế hợp tác song phương trên các lĩnh vực và đã ký kết nhiều văn kiện hợp tác quan trọng định hướng cho quan hệ.
Đặc biệt, 13 văn kiện hợp tác được trao đổi và Tuyên bố chung của chuyến thăm vừa qua đã khẳng định mạnh mẽ về chính trị và tạo khung pháp lý vững chắc, mở ra các cơ hội cho hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư giữa Việt Nam - Ấn Độ, nhất là trong các lĩnh vực xuất khẩu chiến lược; tập trung vào công nghệ thông tin, kinh tế số và đổi mới sáng tạo; công nghiệp chế biến, chế tạo gắn với chuỗi cung ứng; năng lượng và tăng trưởng xanh, nhất là năng lượng tái tạo và chuyển dịch năng lượng sạch; cùng với nông nghiệp công nghệ cao, chế biến thực phẩm và dược phẩm.
Đồng thời, sự hợp tác cũng sẽ gia tăng trong hoạt động logistics, thương mại điện tử, kết nối hạ tầng và du lịch, góp phần nâng cao hiệu quả liên kết và mở rộng không gian hợp tác giữa hai nền kinh tế.
- Việt Nam và Ấn Độ được đánh giá có tính “bổ trợ” cao trong chuỗi cung ứng. Theo ông, đâu là những ngành hàng và lĩnh vực có tiềm năng bứt phá mạnh nhất trong thời gian tới nếu hai nước tận dụng tốt các hiệp định thương mại và xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu?
TS.Nguyễn Minh Phong: Hiện nay, hai nước đang có thoả thuận thương mại như Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Ấn Độ (AIFTA). Đây là khuôn khổ pháp lý quan trọng nhất.
Tính "bổ trợ" giữa Việt Nam và Ấn Độ không chỉ nằm ở việc mua bán hàng hóa, mà còn ở khả năng kết hợp thế mạnh của một bên là "công xưởng sản xuất" (Việt Nam) và một bên là "nguồn nguyên liệu, công nghệ phần mềm" (Ấn Độ).
Dưới đây là 4 lĩnh vực có tiềm năng bứt phá mạnh nhất nhờ tận dụng Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Ấn Độ (AIFTA) và xu hướng "China+1":
Công nghệ thông tin và kinh tế số: trọng tâm hợp tác về phần mềm và phần cứng, an ninh mạng và AI do sự tương đồng về định hướng chuyển đổi số; Ấn Độ là cường quốc về dịch vụ công nghệ thông tin và phần mềm. Việt Nam đang đẩy mạnh sản xuất thiết bị phần cứng và linh kiện điện tử. Sự kết hợp này giúp tạo ra các sản phẩm công nghệ hoàn chỉnh mang thương hiệu chung cho khu vực. Với việc ký kết hợp tác về hạ tầng số và 6G trong chuyến thăm vừa qua, hai nước sẽ bùng nổ các dự án về Fintech, Edutech và giải pháp bảo mật thông tin.
Dệt may và da giày: Việt Nam nhập khẩu lượng lớn bông, sợi và vải từ Ấn Độ để khắc phục tình trạng thiếu hụt nguyên liệu nội địa. Tận dụng AIFTA giúp giảm thuế quan hàng dệt may Việt Nam có giá trị gia tăng cao, thiết kế tốt thâm nhập phân khúc trung lưu đang tăng nhanh tại Ấn Độ. Ngược lại, Ấn Độ dùng Việt Nam làm "bàn đạp" để xuất khẩu sang các thị trường mà Việt Nam có FTA như EU (EVFTA) hay Mỹ (CPTPP).
Công nghiệp dược phẩm và y tế: Ấn Độ hiện được coi là "nhà thuốc của thế giới" và Việt Nam có dư địa phát triển lớn trong ngành này. Nếu dự án công viên dược phẩm tại Việt Nam với sự đầu tư từ các tập đoàn Ấn Độ được hiện thực hoá sẽ giúp Việt Nam tự chủ hơn công nghệ về thuốc đặc trị và vắc-xin, nhất là nhận chuyển giao công nghệ sản xuất thuốc generic và nguyên liệu dược chất (API) tại Việt Nam để xuất khẩu đi khu vực ASEAN.
Năng lượng tái tạo và khoáng sản chiến lược: Ấn Độ có kinh nghiệm hàng đầu về điện mặt trời và điện gió. Các doanh nghiệp Ấn Độ đang nhắm tới các dự án hạ tầng năng lượng xanh tại miền Trung và miền Nam Việt Nam. Hai bên cũng có thể đẩy mạnh hợp tác trong khai thác đất hiếm và khoáng sản, cung cấp nguyên liệu cho ngành sản xuất pin xe điện và chip bán dẫn mà cả hai nước đang cùng theo đuổi.
Trong 4 lĩnh vực tiềm năng đã nêu, dược phẩm và công nghệ số hiện đang là hai "mũi nhọn" có những chuyển động thực tế nhất sau chuyến thăm cấp Nhà nước vừa qua.
Doanh nghiệp Việt cần chiến lược dài hạn để chinh phục thị trường 1,4 tỷ dân
- Bên cạnh dư địa hợp tác rộng mở, doanh nghiệp Việt Nam vẫn đối mặt nhiều thách thức khi tiếp cận thị trường hơn 1,4 tỷ dân của Ấn Độ như tiêu chuẩn kỹ thuật, logistics, cạnh tranh giá và khác biệt thị hiếu tiêu dùng. Theo ông, doanh nghiệp và cơ quan quản lý cần có giải pháp gì để nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị phần và xây dựng vị thế hàng Việt tại thị trường này trong giai đoạn tới?
TS.Nguyễn Minh Phong: Với quy mô dân số khổng lồ 1,4 tỷ người và sức mua ngày càng gia tăng với hơn 600 triệu người thuộc tầng lớp trung lưu, Ấn Độ thực sự là một thị trường rộng lớn, giàu tiềm năng đối với hàng hóa Việt Nam. Đây là cơ hội mà doanh nghiệp Việt Nam cần tận dụng hiệu quả hơn nữa để thúc đẩy tăng trưởng thương mại song phương.
Một mặt, các doanh nghiệp cần nghiên cứu, nắm rõ và đầy đủ nội dung, tận dụng hiệu quả các khuôn khổ hợp tác hiện có giữa hai nước, đặc biệt là khuôn khổ Đối tác Chiến lược Toàn diện và các cơ chế hợp tác ASEAN - Ấn Độ, trong đó có Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN - Ấn Độ (AITIGA), nhằm mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường và giảm rào cản thương mại.
Doanh nghiệp nên theo dõi sát các cập nhật về tiêu chuẩn của Cơ quan Tiêu chuẩn Ấn Độ (BIS) và các ưu đãi thuế từ Hiệp định AIFTA. Các diễn đàn doanh nghiệp (Business Forum) thường xuyên được tổ chức bởi Đại sứ quán và VCCI là nơi tốt nhất để tìm kiếm đối tác liên doanh trực tiếp.
Đặc biệt, các doanh nghiệp lớn cần có chiến lược thâm nhập thị trường bài bản, theo hướng bền vững thông qua hợp tác với đối tác bản địa và nghiên cứu kỹ thị trường và lựa chọn phân khúc phù hợp, xác định đúng sản phẩm, khách hàng mục tiêu và khu vực tiếp cận; chủ động xúc tiến thương mại và tham gia hội chợ, triển lãm và các kênh kết nối chính thức để mở rộng thị phần.
Ấn Độ không phải là một thị trường duy nhất mà là tập hợp của nhiều tiểu vùng với thị hiếu khác nhau. Người tiêu dùng Ấn Độ cực kỳ nhạy cảm về giá nhưng cũng rất quan tâm đến uy tín. Doanh nghiệp cần nghiên cứu sâu về văn hóa để điều chỉnh bao bì và khẩu vị sản phẩm; hướng tới quy mô sản xuất lớn hoặc tham gia vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn Ấn Độ để tận dụng hệ thống phân phối sẵn có của họ, cũng như chủ động đưa hàng lên các sàn thương mại điện tử lớn tại Ấn Độ như Amazon.in, Flipkart hay Reliance Retail để tiếp cận trực tiếp tầng lớp trung lưu trẻ tuổi.
Đồng thời, doanh nghiệp cần cập nhật công nghệ và thị trường để không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh về chất lượng, tiêu chuẩn và thương hiệu, đảm bảo truy xuất nguồn gốc đáp ứng chuẩn quốc tế và xây dựng thương hiệu bản địa riêng.
Ngoài ra, doanh nghiệp cần chú ý hơn đến việc kết nối logistics đường biển và đường hàng không trực tiếp, chủ động thích ứng với xu hướng chuyển đổi số và thương mại điện tử, nhất là trong các lĩnh vực hàng tiêu dùng, thực phẩm, thời trang và công nghệ để giảm chi phí vận tải, vốn đang là rào cản lớn nhất hiện nay.
Mặt khác, các cơ quan chức năng cần chủ động và có trách nhiệm cung cấp thông tin thị trường, tư vấn và cảnh báo thương mại, giúp doanh nghiệp kịp thời nắm bắt xu hướng tiêu dùng, quy định nhập khẩu, tiêu chuẩn kỹ thuật và thay đổi chính sách, qua đó nâng cao khả năng thích ứng và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh.
Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại quy mô lớn và kết nối doanh nghiệp hai chiều, tổ chức, hỗ trợ các đoàn tham gia các sự kiện, hội chợ, triển lãm, diễn đàn Doanh nghiệp và giao thương tại hai nước, nhất là cho các doanh nghiệp hoạt động trong ngành thực phẩm, dệt may, nhựa, điện tử, công nghệ thông tin, du lịch và dịch vụ… mà hai bên có nhu cầu.
Chính phủ và Bộ, ngành trung ương cần đẩy mạnh đàm phán với các cơ quan kiểm định của Ấn Độ (như BIS, FSSAI) để công nhận lẫn nhau về kết quả kiểm tra chất lượng; khuyến khích các hãng hàng không và vận tải biển mở thêm đường bay/tuyến biển trực tiếp (đặc biệt là kết nối các cảng biển lớn như Hải Phòng, Cái Mép với Mumbai, Mundra).
Logistics thuận lợi sẽ giúp giảm giá thành sản phẩm, yếu tố sống còn tại Ấn Độ; nghiên cứu thành lập thêm các trung tâm xúc tiến tại các bang kinh tế trọng điểm (như Gujarat hay Maharashtra) để cung cấp thông tin thị trường theo thời gian thực và hỗ trợ pháp lý khi có tranh chấp
Đồng thời, đa dạng hoá và xã hội hoá các hoạt động phối hợp cộng đồng doanh nghiệp và các cơ quan chức năng trong kết nối cung cầu, hỗ trợ xây dựng và mở rộng mạng lưới phân phối thông qua các kênh bán lẻ hiện đại và các tập đoàn phân phối lớn; thúc đẩy hợp tác đầu tư và công nghệ thông qua kết nối doanh nghiệp, hiệp hội và phòng thương mại hai nước, tập trung vào các lĩnh vực tiềm năng như công nghệ thông tin, chuyển đổi số, công nghiệp chế biến và năng lượng.
Trân trọng cảm ơn chuyên gia!






