Sức bật chuyển đổi số từ những vùng chè nguyên liệu tiêu biểu
Thái Nguyên từ lâu đã khẳng định vị thế là vùng đất với những đặc sản chè nổi tiếng, nơi giá trị văn hóa trà hòa quyện cùng chất lượng sản phẩm đỉnh cao. Để gia tăng sức cạnh tranh và nâng cao giá trị cho ngành hàng nông nghiệp trọng điểm này, tỉnh đang thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi số trên toàn bộ các khâu. Những mô hình thực tiễn tại cơ sở cùng lộ trình xây dựng hệ sinh thái số giai đoạn 2026-2030 đang đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển hiện đại và bền vững của thương hiệu chè địa phương.
Lan tỏa chuyển đổi số từ các vùng nguyên liệu trọng điểm
Theo Báo Thái Nguyên, thực tiễn từ xã Vô Tranh minh chứng rõ nét cho thấy công nghệ số đang từng bước thâm nhập sâu rộng vào mọi công đoạn của chuỗi sản xuất chè. Nhờ việc số hóa từ quy trình chăm sóc đến thông tin sản phẩm, người dân và nhà quản lý đã có thêm công cụ đắc lực để kiểm soát chất lượng chặt chẽ hơn.
Địa phương này được hình thành trên cơ sở sáp nhập nguyên trạng diện tích cùng dân số của bốn đơn vị hành chính cũ gồm Cổ Lũng, Vô Tranh, Tức Tranh và Phú Đô, sở hữu vùng nguyên liệu lên tới 2.614ha và được vinh danh trong nhóm “Ngũ đại danh trà” của tỉnh. Nơi đây hiện quy tụ 38 làng nghề chè cùng 12 sản phẩm đạt chuẩn OCOP từ 3 đến 5 sao, với hơn 800ha đạt chuẩn GAP, 34ha canh tác hữu cơ và 196ha được cấp mã số vùng trồng.
Sự chuyển dịch này mang lại những thay đổi toàn diện khi 100% cơ sở chế biến, kinh doanh chè tại đây đáp ứng nghiêm ngặt quy định an toàn thực phẩm. Khoảng 20% các doanh nghiệp và hợp tác xã đã ứng dụng công nghệ số vào toàn bộ chuỗi từ thu hoạch, sơ chế đến bảo quản, trong khi tỷ lệ sản phẩm hiện diện trên các sàn thương mại điện tử đã đạt khoảng 80%.
Điển hình như tại Hợp tác xã Trà an toàn Phú Đô với hơn 16ha đạt chuẩn VietGAP và gần 5ha sản xuất hữu cơ, việc ứng dụng phần mềm FaceFarm đã giúp số hóa toàn bộ nhật ký canh tác và hiển thị dữ liệu minh bạch trên bản đồ số. Đơn vị này hiện duy trì 6 dòng sản phẩm chủ lực có mức giá dao động từ 200 nghìn đến 5 triệu đồng/kg, sản lượng xuất bán hàng năm vượt 30 tấn và giá trị sản xuất đạt trên 600 triệu đồng/ha/năm.
Chia sẻ về định hướng này, Giám đốc Hoàng Văn Tuấn cho biết mục tiêu cốt lõi là xây dựng chuỗi giá trị minh bạch nhằm nâng cao thu nhập cho bà con vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Với những nỗ lực nổi bật ấy, vào năm 2026, hợp tác xã đã được vinh danh tại Chương trình Biểu dương thành tựu tác động vì Việt Nam số ở hai hạng mục quan trọng về ứng dụng khoa học kỹ thuật và lãnh đạo chuyển đổi số xuất sắc.
Hướng tới hệ sinh thái số đồng bộ giai đoạn 2026-2030
Nhằm mục tiêu đưa ngành chè vươn lên tầm cao mới theo hướng thông minh, hiện đại và đa giá trị, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã ban hành Kế hoạch số 356/KH-UBND vào ngày 10/8/2026. Kế hoạch này vạch ra lộ trình đến năm 2030 sẽ cơ bản hình thành một hệ sinh thái số toàn diện cho toàn ngành.
Các mục tiêu cụ thể được đặt ra bao gồm việc phủ sóng hồ sơ số và dữ liệu bản đồ GIS cho tối thiểu 70% diện tích chè, đồng thời quản lý 100% mã số vùng trồng trên môi trường số. Bên cạnh đó, toàn bộ các sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể và sản phẩm OCOP đều sẽ được tích hợp hộ chiếu số, nhận diện số và truy xuất nguồn gốc minh bạch.
Trong khâu sản xuất và chế biến, tỉnh định hướng 100% doanh nghiệp và hợp tác xã ứng dụng công nghệ phù hợp, đồng thời xây dựng ít nhất 5 mô hình vùng chè thông minh cùng 10 mô hình cơ sở chế biến thông minh. Về mặt phân phối, 100% sản phẩm trà sẽ được quảng bá rộng rãi trên các nền tảng số và thương mại điện tử, giúp người tiêu dùng dễ dàng tiếp cận thông tin nguồn gốc chính thống.
Để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược này, địa phương tập trung phát triển nền tảng dữ liệu số, bản đồ số GIS đa lớp ưu tiên cho các vùng chè đặc sản, cùng hệ thống chống giả đa lớp và hộ chiếu số sản phẩm. Khi công nghệ trở thành trợ thủ đắc lực và dữ liệu đóng vai trò nguồn lực cốt lõi, thương hiệu chè Thái Nguyên chắc chắn sẽ có thêm bệ phóng vững chắc để vươn xa trên thị trường trong nước cũng như quốc tế.





