Doanh nhân Phạm Thùy Linh đề xuất xây dựng chuỗi giá trị nông sản Thái Nguyên bền vững
Tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026, bà Phạm Thùy Linh cho rằng Thái Nguyên cần kết nối vùng nguyên liệu, chế biến, thương mại và quản trị rủi ro để nâng giá trị chè, nông sản địa phương.
Tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 – Phiên đối thoại địa phương tỉnh Thái Nguyên ngày 12/10/2026. Trong bài tham luận về liên kết chuỗi sản xuất bà Phạm Thùy Linh, Phó Chủ tịch Câu lạc bộ Doanh nhân xứ Trà, cho rằng chế biến trà và nông sản giá trị cao, bà cho rằng địa phương không thiếu sản phẩm tốt, nhưng vẫn cần những chuỗi liên kết đủ mạnh để đưa sản phẩm đến thị trường với giá trị cao hơn.
Theo bà Linh, Thái Nguyên có vùng nguyên liệu chè, người nông dân giàu kinh nghiệm và những sản phẩm đã tạo dựng được chỗ đứng trên thị trường. Tuy nhiên, từ một sản phẩm có chất lượng đến một mặt hàng có thương hiệu, đầu ra ổn định và khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế vẫn là khoảng cách không dễ thu hẹp.
Một hộ nông dân khó có thể đồng thời đảm nhiệm tất cả công đoạn, từ sản xuất nguyên liệu, chuẩn hóa chất lượng, chế biến, thiết kế bao bì đến tiếp thị, logistics, xuất khẩu và chăm sóc khách hàng. Tương tự, doanh nghiệp nhỏ cũng khó tự đầu tư đầy đủ nguồn lực để kiểm soát toàn bộ chuỗi hoạt động.
Vì vậy, theo bà Linh, liên kết không nên chỉ dừng ở những hợp đồng mua bán riêng lẻ, mà cần chuyển thành quá trình cùng đầu tư, cùng chuẩn hóa chất lượng, xây dựng thương hiệu và chia sẻ trách nhiệm với thị trường.
Từ mua bán riêng lẻ đến chuỗi giá trị có khả năng cạnh tranh
Một trong những điểm nghẽn được bà Linh nhấn mạnh là các mối liên kết hiện có chưa thực sự tạo thành chuỗi giá trị bền vững. Nông dân có thể cung cấp nguyên liệu cho doanh nghiệp, hợp tác xã kết nối với cơ sở chế biến, nhưng quan hệ giữa các bên nhiều khi vẫn chủ yếu dựa trên giao dịch mua bán trước mắt.
Khi giá nguyên liệu tăng, người sản xuất muốn bán với giá cao hơn. Khi thị trường khó khăn, doanh nghiệp lại tìm cách giảm chi phí. Nếu mỗi bên chỉ ưu tiên lợi ích riêng, chuỗi liên kết khó duy trì ổn định, nhất là khi thị trường biến động hoặc yêu cầu chất lượng ngày càng khắt khe.
Bà Linh cho rằng cần thay đổi cách tiếp cận, từ câu hỏi mỗi bên bán gì cho đối tác sang việc cùng tạo ra giá trị nào cho khách hàng. Đây là nền tảng để các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất hình thành quan hệ hợp tác dài hạn, thay vì chỉ kết nối khi có nhu cầu giao dịch.
Theo bà, một chuỗi trà hoặc nông sản giá trị cao cần được tổ chức trên ít nhất năm mắt xích. Đầu tiên là vùng nguyên liệu ổn định, có khả năng truy xuất nguồn gốc, đáp ứng tiêu chuẩn và được bảo đảm bằng cam kết lâu dài giữa người sản xuất với doanh nghiệp.
Tiếp đó là chế biến. Thay vì chủ yếu tiêu thụ nguyên liệu thô, doanh nghiệp cần gia tăng hàm lượng chế biến, phát triển các dòng sản phẩm phù hợp với từng phân khúc khách hàng. Cùng với đó, thương hiệu phải được đầu tư bài bản, gắn sản phẩm với vùng đất, con người, văn hóa và chất lượng đặc trưng của Thái Nguyên.
Khâu logistics và phân phối cũng quyết định khả năng tiếp cận thị trường. Một sản phẩm dù tốt nhưng vận chuyển chậm, chi phí cao hoặc không bảo đảm điều kiện bảo quản vẫn khó cạnh tranh. Trong khi đó, quản trị rủi ro là yếu tố thường bị xem nhẹ nhưng có thể ảnh hưởng đến toàn bộ chuỗi.
Khi doanh nghiệp đầu tư vào vùng nguyên liệu, nhà xưởng, máy móc, kho hàng, vận chuyển và thương hiệu, các sự cố như thiên tai, hỏa hoạn, hư hỏng tài sản hay trách nhiệm với khách hàng đều có thể gây thiệt hại lớn. Bà Linh đề xuất nhìn nhận bảo hiểm như một cấu phần của chuỗi giá trị, góp phần tăng khả năng chống chịu, thay vì chỉ coi đây là khoản chi phí phát sinh.
Cần doanh nghiệp dẫn dắt và hệ sinh thái cùng phát triển
Để đưa các mối liên kết vào thực tế, bà Linh đề xuất ba hướng giải pháp, trong đó trọng tâm là xây dựng chuỗi theo từng sản phẩm chủ lực. Với chè Thái Nguyên, mô hình có thể kết nối vùng nguyên liệu, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến, đơn vị thương mại, logistics, tài chính, bảo hiểm và thị trường tiêu thụ.
Theo cách tổ chức này, mỗi doanh nghiệp không cần tự làm tất cả công đoạn, mà tập trung phát huy thế mạnh của mình và phối hợp với các đơn vị khác. Việc phân công rõ vai trò giúp giảm chi phí đầu tư trùng lặp, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ tham gia vào mạng lưới kinh doanh lớn hơn.
Giải pháp thứ hai là hình thành doanh nghiệp dẫn dắt chuỗi. Nhà nước không nhất thiết trực tiếp làm thay doanh nghiệp, nhưng có thể đóng vai trò kiến tạo, lựa chọn những doanh nghiệp đủ năng lực làm đầu mối kết nối vùng nguyên liệu, cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhỏ và vừa, ngân hàng, đơn vị logistics, bảo hiểm và các kênh phân phối.
Khi có một đầu mối chịu trách nhiệm về tiêu chuẩn, thị trường và thương hiệu, việc phối hợp giữa các mắt xích sẽ thuận lợi hơn. Doanh nghiệp dẫn dắt cũng có thể hỗ trợ các hộ sản xuất, hợp tác xã cải thiện chất lượng, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và xây dựng kế hoạch cung ứng ổn định.
Một hướng đi khác được bà Linh đề cập là thúc đẩy doanh nghiệp địa phương mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của nhau. Chẳng hạn, doanh nghiệp trà có thể đặt bao bì từ đơn vị sản xuất trong tỉnh, sử dụng dịch vụ vận chuyển, công nghệ, truyền thông, tài chính và bảo hiểm của các doanh nghiệp khác tại địa phương.
Theo bà, nếu mỗi doanh nghiệp chỉ tìm kiếm khách hàng bên ngoài mà bỏ qua nhu cầu của những đơn vị cùng địa bàn, Thái Nguyên sẽ chưa khai thác hết tiềm năng của thị trường nội tỉnh. Ngược lại, mạng lưới giao thương được hình thành tốt có thể giúp doanh nghiệp tăng đầu ra, tạo thêm cơ hội hợp tác và giữ lại nhiều giá trị kinh tế trong địa phương.
Từ những đề xuất trên, bà Linh kiến nghị tỉnh Thái Nguyên cùng các tổ chức hội, hiệp hội nghiên cứu xây dựng chương trình “Kết nối chuỗi giá trị nông sản Thái Nguyên”. Chương trình cần đi xa hơn hoạt động hội chợ hay xúc tiến thương mại đơn thuần, bằng cách xác định sản phẩm chủ lực, doanh nghiệp dẫn dắt, vùng nguyên liệu, các mắt xích còn thiếu và nguồn lực cần kết nối để đưa sản phẩm ra thị trường.
Theo bà, mục tiêu tăng trưởng cao của Thái Nguyên không chỉ phụ thuộc vào những dự án quy mô lớn, mà còn đến từ khả năng nâng năng suất và sức cạnh tranh của hàng nghìn doanh nghiệp nhỏ và vừa. Một cây chè có thể tạo ra một sản phẩm, nhưng một chuỗi liên kết hiệu quả có thể mở ra nhiều dòng sản phẩm, tạo việc làm và giúp nhiều doanh nghiệp cùng phát triển.
Khi liên kết sản xuất, chế biến, thương mại, dịch vụ và quản trị rủi ro được tổ chức đồng bộ, chè và nông sản Thái Nguyên sẽ có thêm cơ hội vượt khỏi phạm vi sản phẩm đặc trưng địa phương, từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng trong nước và quốc tế.





