Chuyên gia Vũ Anh Tuấn: Đề xuất đánh thức tiềm năng dược liệu dưới tán rừng Thái Nguyên

Thị Trường • 13/10/2026 09:38

Tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 – Phiên đối thoại địa phương tỉnh Thái Nguyên ngày 12/10/2026, ông Vũ Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Dược và Mỹ phẩm, nêu trong tham luận về phát triển dược liệu cụm Đông Bắc Thái Nguyên tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026.

tuan_1791858951.webp
Ông Vũ Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Dược và Mỹ phẩm tham luận tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 – Phiên đối thoại địa phương tỉnh Thái Nguyên ngày 12/10/2026. (Ảnh: Phan Chính)

Tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 – Phiên đối thoại địa phương tỉnh Thái Nguyên ngày 12/10/2026, ông Vũ Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Dược và Mỹ phẩm, địa phương cần chuyển từ khai thác tự phát, bán nguyên liệu thô sang phát triển chuỗi giá trị đa dụng, kết nối khoa học, doanh nghiệp và người dân.

Hiện Việt Nam hiện có hơn 5.100 loài thực vật và nấm có công dụng làm thuốc, theo số liệu được ông Tuấn dẫn trong tham luận. Riêng cụm Đông Bắc Thái Nguyên có điều kiện địa hình, khí hậu và hệ sinh thái phù hợp với nhiều loài dược liệu như thất diệp nhất chi hoa, sa nhân tím, khôi nhung, trà hoa vàng, giảo cổ lam, ba kích tím, hà thủ ô đỏ, thạch hộc và bình vôi.

Bên cạnh nguồn tài nguyên tự nhiên, khu vực còn có kho tàng tri thức y học dân gian của các cộng đồng Tày, Nùng, Dao, Mông, Sán Dìu. Những kinh nghiệm sử dụng thảo dược được truyền qua nhiều thế hệ có thể trở thành nguồn tư liệu quan trọng cho nghiên cứu, phát triển sản phẩm và bảo tồn văn hóa bản địa nếu được ghi nhận, kiểm chứng và khai thác phù hợp.

Thái Nguyên cũng có lợi thế về hệ thống giáo dục, y tế và nghiên cứu khoa học, với Đại học Thái Nguyên, Trường Đại học Y - Dược và Đại học Nông Lâm. Theo ông Tuấn, việc các cơ sở nghiên cứu ở gần vùng nguyên liệu tạo điều kiện thuận lợi để phát triển công nghệ nhân giống, kiểm soát chất lượng và chế biến sâu.

Dù vậy, tiềm năng này chưa được chuyển hóa đầy đủ thành lợi ích kinh tế cho người dân địa phương.

Dược liệu còn manh mún, giá trị chủ yếu nằm ngoài vùng nguyên liệu

Theo đánh giá của ông Tuấn, một trong những hạn chế lớn nhất là hoạt động khai thác dược liệu vẫn phân tán, thiếu quy hoạch vùng trồng và phụ thuộc nhiều vào thu hái tự nhiên. Sản xuất quy mô hộ nhỏ khiến nguồn cung thiếu ổn định, chất lượng không đồng đều, trong khi việc áp dụng các tiêu chuẩn thực hành tốt nuôi trồng và thu hái dược liệu như GACP-WHO còn hạn chế.

Sau thu hoạch, nhiều loại dược liệu chủ yếu được phơi khô hoặc sơ chế thủ công rồi bán cho thương lái. Việc thiếu các cơ sở chiết xuất, phân lập hoạt chất và tinh chế khiến địa phương khó tham gia vào những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn.

Ông Tuấn chỉ ra nghịch lý khi người dân bán nguyên liệu với giá thấp nhưng thị trường lại tiêu thụ các sản phẩm thuốc, thực phẩm bảo vệ sức khỏe và mỹ phẩm được chế biến sâu với giá trị cao hơn nhiều. Phần lợi ích lớn vì thế chưa được giữ lại tương xứng tại nơi tạo ra nguyên liệu.

Thiếu đầu ra ổn định cũng khiến người dân dè dặt đầu tư vùng trồng. Trong khi đó, khai thác thiếu kiểm soát, đào cây non và không chú trọng tái sinh có thể làm suy giảm nguồn gen quý. Khi thu nhập không ổn định, người trẻ ít mặn mà với nghề, kéo theo nguy cơ mai một tri thức sử dụng cây thuốc của cộng đồng.

Một điểm nghẽn khác là khoảng cách giữa nghiên cứu và sản xuất. Nhiều kết quả khoa học chưa được chuyển giao hiệu quả, trong khi người trồng thiếu hướng dẫn về nhân giống, kỹ thuật canh tác và thời điểm thu hái phù hợp để bảo đảm chất lượng dược liệu.

Để tháo gỡ những hạn chế này, ông Tuấn cho rằng cần thay đổi cách nhìn về thị trường. Dược liệu không chỉ là nguyên liệu phục vụ các bài thuốc truyền thống mà còn có thể cung cấp đầu vào cho công nghiệp dược, thực phẩm bảo vệ sức khỏe và mỹ phẩm thiên nhiên.

Với nhóm thuốc, hướng phát triển là nghiên cứu, chiết xuất và chuẩn hóa hoạt chất từ những loài cây có tiềm năng. Trong lĩnh vực thực phẩm bảo vệ sức khỏe, các sản phẩm như trà hòa tan từ trà hoa vàng, chế phẩm từ thảo mộc hoặc các dạng bào chế phù hợp có thể mở rộng lựa chọn cho người tiêu dùng. Ngành mỹ phẩm cũng có nhu cầu đối với nguyên liệu thiên nhiên để phát triển tinh dầu, xà phòng thảo dược, dầu gội và sản phẩm chăm sóc da.

Xây dựng chuỗi liên kết từ vùng trồng đến nhà máy chế biến

Để hình thành ngành dược liệu có sức cạnh tranh, ông Tuấn đề xuất đưa diện tích, sản lượng và giá trị kinh tế dược liệu vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và 5 năm của các địa phương thuộc cụm Đông Bắc. Phát triển dược liệu dưới tán rừng cũng cần gắn với mục tiêu giảm nghèo bền vững, bảo vệ hệ sinh thái và nâng cao đời sống người dân.

Về chính sách, tỉnh cần nghiên cứu cơ chế giao đất, giao rừng và giao khoán bảo vệ rừng gắn với quyền lợi phát triển dược liệu phù hợp quy định pháp luật. Các hỗ trợ về vốn vay, giống đạt chất lượng, phân bón sinh học và hệ thống tưới tiêu có thể giúp người dân giảm chi phí ban đầu, từng bước chuyển từ thu hái tự nhiên sang trồng và chăm sóc có kế hoạch.

Việc quy hoạch vùng trồng, cấp mã số và áp dụng truy xuất nguồn gốc cũng được xem là điều kiện quan trọng để bảo đảm chất lượng, đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp chế biến và mở rộng thị trường.

Một đề xuất đáng chú ý là tăng cường liên kết giữa nhà khoa học với người dân. Các cơ quan nghiên cứu cần được đặt hàng giải quyết những vấn đề cụ thể, từ nhân giống, xác định thời điểm thu hái đến nghiên cứu hoạt chất và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp. Hợp tác xã có thể được hỗ trợ đầu tư thiết bị sơ chế, máy sấy phù hợp để hạn chế hao hụt chất lượng sau thu hoạch.

Song song, ông Tuấn kiến nghị có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp quy mô lớn đầu tư nhà máy chiết xuất, chế biến sâu đạt chuẩn GMP tại cụm Đông Bắc hoặc khu vực lân cận. Doanh nghiệp đóng vai trò dẫn dắt, xây dựng tiêu chuẩn, phát triển sản phẩm và cam kết bao tiêu dài hạn; người dân, hợp tác xã tổ chức sản xuất theo yêu cầu của thị trường.

Mô hình này đòi hỏi sự phối hợp giữa Nhà nước, giới khoa học, doanh nghiệp và cộng đồng sản xuất. Nhà nước kiến tạo cơ chế, nhà khoa học cung cấp giải pháp công nghệ, doanh nghiệp tổ chức chế biến và thương mại hóa, còn người dân trở thành chủ thể của vùng nguyên liệu.

Theo ông Tuấn, nếu được tổ chức bài bản, dược liệu có thể tạo thêm việc làm, nâng thu nhập cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời tạo động lực để bảo vệ rừng và gìn giữ tri thức bản địa. Khi giá trị kinh tế gắn trực tiếp với việc bảo tồn tài nguyên, người dân sẽ có thêm lợi ích thiết thực từ việc duy trì hệ sinh thái.

Phát triển dược liệu theo tinh thần Nghị quyết 57 vì thế không chỉ là câu chuyện ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, mà còn là bài toán tổ chức lại sản xuất và phân phối lợi ích. Thái Nguyên có cơ sở để hướng tới vai trò cung ứng nguyên liệu cho ngành dược, thực phẩm bảo vệ sức khỏe và mỹ phẩm của vùng Trung du và miền núi phía Bắc, nếu tháo gỡ được những điểm nghẽn về công nghệ, đầu ra và liên kết chuỗi.

Nguồn: Theo Tạp chí Doanh Nhân Trẻ
Tin đáng đọc