Phòng kiểm nghiệm tăng nhưng xuất khẩu sầu riêng vẫn nghẽn
Việc Tổng cục Hải quan Trung Quốc phê duyệt thêm nhiều phòng kiểm nghiệm đã giúp tháo gỡ phần nào áp lực cho ngành sầu riêng. Dù số cơ sở tăng, các nút thắt trong chuỗi liên kết và kiểm soát chất lượng vẫn là rào cản lớn, khiến xuất khẩu gặp nhiều khó khăn.
Hệ thống kiểm nghiệm còn nhiều hạn chế
Sự phát triển nhanh của diện tích trồng sầu riêng đang đẩy áp lực lên hệ thống kiểm nghiệm cadimi và vàng O đến ngưỡng giới hạn. Tại Lâm Đồng, diện tích sầu riêng năm 2025 đạt hơn 44.283 ha, trong đó 22.850 ha đang cho thu hoạch, với sản lượng hơn 284.287 tấn. Dự kiến năm 2026, diện tích sẽ tăng lên 45.550 ha, sản lượng vượt 310.000 tấn.
Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Lâm Đồng, hiện địa phương chỉ có 2 cơ sở được Trung Quốc công nhận kiểm nghiệm cadimi và vàng O, gồm Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng tỉnh Lâm Đồng và Chi nhánh 1 của Công ty CP Chứng nhận và Giám định Miền Đông Việt Nam tại Bảo Lộc. Sự thiếu hụt này khiến hệ thống thường xuyên quá tải vào cao điểm thu hoạch, kéo theo tình trạng chậm trễ trong lưu thông hàng hóa.
Không chỉ riêng địa phương, số lượng phòng kiểm nghiệm được phía Trung Quốc công nhận cũng biến động đáng kể. Nếu trước đây có 24 phòng được phép thực hiện cả hai chỉ tiêu, thì hiện chỉ còn 17 phòng xét nghiệm cadimi và 15 phòng xét nghiệm vàng O. Nguyên nhân được cho là do một số phòng từng có kết quả kiểm nghiệm tại Việt Nam đạt yêu cầu nhưng khi phía nhập khẩu kiểm tra lại không đạt, dẫn tới việc bị rút khỏi danh sách công nhận.
Ông Nguyễn Văn Mười, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, cho biết: “Tình trạng thiếu phòng kiểm nghiệm hiện nay là kết quả của nhiều yếu tố cộng hưởng. Trước hết, ngành sầu riêng đang vào cao điểm thu hoạch nên nhu cầu kiểm nghiệm tăng mạnh. Bên cạnh đó, từ ngày 1/6, việc thực hiện Lệnh 280 của Trung Quốc khiến công tác kiểm tra mã số vùng trồng và dư lượng cadimi bị siết chặt hơn, kéo theo thời gian xét nghiệm kéo dài”.
Ông Mười cũng cho biết thêm, việc đầu tư một phòng kiểm nghiệm phục vụ xuất khẩu sầu riêng đòi hỏi nguồn vốn lớn, công nghệ hiện đại và đội ngũ nhân sự có chuyên môn cao, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Ngoài ra, trở ngại lớn hiện nay nằm ở thủ tục pháp lý phức tạp, khi việc cấp phép không chỉ cần cơ quan chức năng Việt Nam chấp thuận mà còn phải được phía Trung Quốc phê duyệt.
Như tại Đồng bằng sông Cửu Long, dù là vùng trọng điểm sản xuất sầu riêng xuất khẩu của cả nước, song số lượng phòng kiểm nghiệm đạt chuẩn tại đây vẫn còn khá ít, chỉ có 8 cơ sở. Ông Võ Tấn Lợi, Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng tỉnh Đồng Tháp, cho biết các phòng kiểm nghiệm phục vụ xuất khẩu đều phải được phía Trung Quốc công nhận, tương tự như mã số vùng trồng hay mã số cơ sở đóng gói. Do đó, nhiều doanh nghiệp phải đưa mẫu về Cần Thơ, TP. HCM, thậm chí ra Hà Nội để kiểm nghiệm trước khi xuất khẩu, làm gia tăng chi phí và thời gian.
Giải pháp nâng cao năng lực kiểm soát
Trước sức ép từ thị trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã giao Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật làm việc với Tổng cục Hải quan Trung Quốc nhằm thúc đẩy phê duyệt thêm các phòng kiểm nghiệm mới. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng bài toán cốt lõi không nằm ở việc gia tăng số lượng phòng kiểm nghiệm, mà ở việc tái cấu trúc toàn bộ chuỗi giá trị.
Theo ông Lê Anh Trung, Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng tỉnh Đắk Lắk, điểm nghẽn hiện nay không nằm ở số lượng phòng kiểm nghiệm mà ở việc xây dựng và vận hành quy trình kiểm soát chất lượng chặt chẽ, đồng bộ để đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe từ thị trường nhập khẩu. "Hiện nay, năng lực kiểm nghiệm cơ bản đáp ứng được nhu cầu. Điều quan trọng là phải thiết lập quy trình kiểm soát nông sản bài bản từ khâu sản xuất, thu hoạch, sơ chế đến xuất khẩu nhằm bảo đảm đáp ứng các tiêu chuẩn của nước nhập khẩu" - ông Trung nhấn mạnh.
Để hoạt động xuất khẩu nông sản nói chung và sầu riêng nói riêng phát triển bền vững, theo ông Trung, cần xây dựng hệ thống quản lý theo chuỗi liên kết khép kín giữa doanh nghiệp xuất khẩu, cơ sở đóng gói, vùng nguyên liệu và người dân. "Xuất khẩu phải được tổ chức theo toàn bộ chuỗi sản xuất. Doanh nghiệp đủ điều kiện xuất khẩu cần liên kết chặt chẽ với vùng trồng, cơ sở đóng gói và nông dân. Điểm nghẽn của hoạt động xuất khẩu nhiều năm qua nằm ở khâu tổ chức thực hiện, giám sát và kiểm soát chất lượng, chứ không phải thiếu phòng kiểm nghiệm" - ông Trung nói.
Ở góc độ quản lý nhà nước, ông Nguyễn Quang Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), nhận định trong ngắn hạn, Trung Quốc vẫn duy trì yêu cầu nghiêm ngặt đối với nông sản nhập khẩu. Vì vậy, ông khuyến khích các phòng kiểm nghiệm tham gia sâu hơn vào quá trình đánh giá theo yêu cầu của cơ quan đầu mối phía Trung Quốc. “Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật sẵn sàng phối hợp, giới thiệu thêm các phòng kiểm nghiệm đủ tiêu chuẩn để phía Trung Quốc xem xét công nhận” - ông Hiếu cho biết.
Liên quan cơ chế quản lý, ông Nguyễn Thanh Bình cho biết thẩm quyền cấp phép thành lập phòng kiểm nghiệm đã được phân cấp cho địa phương. Do đó, các tỉnh, thành cần chủ động rà soát điều kiện và đẩy nhanh cấp phép cho các đơn vị đủ năng lực. Tuy nhiên, việc được cấp phép trong nước chưa đồng nghĩa với việc được tham gia kiểm nghiệm phục vụ xuất khẩu. Ông nhấn mạnh thêm: các phòng thí nghiệm vẫn phải được cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu công nhận. “Đối với thị trường Trung Quốc, các phòng kiểm nghiệm phải được cơ quan chức năng của nước này đánh giá và chấp thuận. Chỉ khi được phía bạn công nhận mới đủ điều kiện tham gia hoạt động kiểm nghiệm phục vụ xuất khẩu. Điều này đòi hỏi sự trao đổi thông tin thường xuyên giữa hai bên” - ông nói.







