Nghệ An biến lợi thế dược liệu bản địa thành ngành kinh tế xanh
Cây dược liệu không chỉ nâng cao thu nhập cho người dân mà còn góp phần bảo tồn nguồn gen quý, bảo vệ rừng, hướng tới trở thành chìa khóa xanh cho phát triển kinh tế bền vững tại Nghệ An.
Từ lợi thế cây dược liệu bản địa, Nghệ An đang từng bước tạo ra những sản phẩm hàng hóa có giá trị. Gắn vùng nguyên liệu với chế biến sâu, OCOP (Chương trình Mỗi xã một sản phẩm) và du lịch, cây dược liệu không chỉ nâng cao thu nhập cho người dân mà còn góp phần bảo tồn nguồn gen quý, bảo vệ rừng, hướng tới trở thành chìa khóa xanh cho phát triển kinh tế bền vững.
Phong phú vùng nguyên liệu
Tại xã Mậu Thạch, cây húng quế đang được trồng theo hướng chuyên canh để chiết xuất tinh dầu, mở ra hướng chuyển đổi cây trồng có giá trị kinh tế cao. Thay vì chỉ thu hoạch lá làm gia vị, người dân được liên kết với doanh nghiệp, hướng dẫn kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm, tạo sự yên tâm trong sản xuất.
Theo ông Lương Thanh Hải, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Mậu Thạch, mô hình bước đầu cho hiệu quả khá, giá trị dự kiến khoảng 200 triệu đồng/ha/năm. Đáng chú ý, húng quế và cây sả, từ cây trồng quen thuộc đã trở thành nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất tinh dầu, từng bước hình thành chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ.
Cùng với húng quế, cây sả cũng được một số địa phương miền Tây Nghệ An phát triển theo hướng lấy tinh dầu. Thực tế cho thấy, hiệu quả của mô hình không chỉ nằm ở năng suất mà còn ở khả năng kết nối thị trường. Khi đầu ra được bảo đảm, người dân có thêm động lực chuyển đổi sang những cây trồng có giá trị cao hơn.
Với điều kiện đất đai đa dạng, Nghệ An có thể phát triển nhiều loại cây hương liệu, dược liệu ở cả vùng thấp, trung du, miền núi và dưới tán rừng. Nghệ An cũng được ghi nhận có hơn 900 loài cây thuốc, trong đó có nhiều loài có giá trị sử dụng và kinh tế.
Tại miền Tây, cây quế là một trong những ví dụ điển hình về khả năng biến lợi thế tự nhiên thành sản phẩm hàng hóa. Quế Quỳ gắn với đời sống của người dân Quế Phong từ nhiều năm, không chỉ cho sản phẩm vỏ quế mà còn có thể khai thác tinh dầu, bột quế và nhiều sản phẩm chế biến khác.
Trong khi đó, chè hoa vàng, giảo cổ lam, cà gai leo, dây thìa canh, đẳng sâm và nhiều loại cây thuốc khác đang được nghiên cứu, gây trồng, phát triển thành vùng nguyên liệu.
Tại xã Tam Hợp, vùng dược liệu được tổ chức theo hướng sản xuất hàng hóa, tuân thủ tiêu chuẩn GACP-WHO. Anh Lá Văn Duy, thành viên Hợp tác xã Nông dược Tĩnh Sáng Đường cho biết, vùng trồng khoảng 20ha đã tạo thêm nguồn thu cho người dân. Theo anh, với cây dược liệu, người dân có thể thu về khoảng 40-80 triệu đồng/năm, thay vì chỉ phụ thuộc vào cây keo.
Dược liệu đang giúp thay đổi cách nghĩ về phát triển kinh tế ở khu vực miền núi. Nếu trước đây người dân chủ yếu khai thác những gì có sẵn trong tự nhiên, thì nay nhiều địa phương đã chuyển sang gây trồng, bảo tồn nguồn gene, chuẩn hóa quy trình và liên kết với doanh nghiệp. Cách làm này vừa tạo sinh kế, vừa giảm áp lực khai thác tài nguyên rừng. Đó cũng là lý do dược liệu đang được xem là một trong những hướng đi có triển vọng đối với kinh tế miền Tây Nghệ An.
Chế biến sâu, xây dựng OCOP
Theo các doanh nghiệp và hợp tác xã, khó khăn lớn nhất của ngành dược liệu hiện nay không nằm ở việc tìm cây để trồng mà là làm sao biến nguyên liệu thành sản phẩm có giá trị cao và xây dựng được thị trường ổn định. Bởi nếu chỉ bán cây tươi hoặc dược liệu khô, phần lớn giá trị của chuỗi sản phẩm vẫn nằm ngoài địa phương. Từ thực tế đó, nhiều chủ thể đã bắt đầu đầu tư vào sơ chế, chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và tham gia OCOP.
Công ty cổ phần Dược liệu Pù Mát, tại xã Con Cuông, là một trong những mô hình tiêu biểu. Từ việc trồng thử nghiệm cà gai leo, dây thìa canh, doanh nghiệp từng bước xây dựng vùng nguyên liệu, đầu tư máy móc và phát triển các sản phẩm trà, bột, cao dược liệu. Đến nay, doanh nghiệp có hơn 17 sản phẩm từ dược liệu được công nhận OCOP 3-4 sao, tiêu thụ trong và ngoài nước. Một số sản phẩm như cao cà gai leo, dây thìa canh đạt OCOP 4 sao.
Ông Phan Xuân Diện, Giám đốc Công ty cổ phần Dược liệu Pù Mát cho rằng, muốn phát triển dược liệu bền vững phải hình thành được chuỗi liên kết từ vùng nguyên liệu đến chế biến và tiêu thụ. Doanh nghiệp tập trung xây dựng vùng nguyên liệu sạch, bảo tồn những nguồn gen quý; đồng thời đầu tư công nghệ chiết xuất chân không, sấy lạnh để nâng giá trị của dược liệu thô. Song song với đó là liên kết, bao tiêu sản phẩm cho người dân.
“Muốn người dân gắn bó với cây dược liệu thì phải có đầu ra ổn định và giá thu mua hợp lý, Thời gian tới chúng tôi sẽ mở rộng vùng nguyên liệu, trồng thêm các loại dược liệu mới dưới tán rừng,” ông Diện nhấn mạnh.
Thực tế cho thấy khi có doanh nghiệp đứng ra tổ chức sản xuất, người dân không còn sản xuất theo kiểu mạnh ai nấy làm mà từng bước tuân thủ quy trình về giống, chăm sóc, thu hái, sơ chế. Đây là điều kiện quan trọng để tiến tới các tiêu chuẩn cao hơn như GACP-WHO, VietGAP, HACCP và truy xuất nguồn gốc.
Không chỉ Pù Mát, nhiều hợp tác xã trên địa bàn tỉnh cũng đang chuyển từ bán nguyên liệu sang chế biến. Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Đạt Vui là doanh nghiệp chuyên nghiên cứu, sản xuất và phân phối các sản phẩm chăm sóc tóc, chăm sóc cơ thể có nguồn gốc từ thiên nhiên, mang thương hiệu Thảo dược Đạt Vui. Hiện công ty phát triển 7 dòng sản phẩm OCOP, được chiết xuất từ các loại thảo dược quen thuộc như bồ kết, hà thủ ô, bưởi, gừng, ngải cứu, hương nhu..., hướng tới khai thác lợi thế nguồn nguyên liệu bản địa.
Theo chị Trần Thị Vui, Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sản xuất và Thương mại Đạt Vui, để phát triển sản phẩm bền vững, doanh nghiệp đang từng bước chủ động vùng nguyên liệu, trong đó có 523 gốc bồ kết và liên kết với 23 hộ dân trồng các loại cây thảo dược ngắn ngày. Công ty cung cấp giống, hướng dẫn kỹ thuật canh tác theo hướng sạch, đồng thời cam kết thu mua nguyên liệu khi đến kỳ thu hoạch.
“Chúng tôi mong muốn các sở, ngành và chính quyền địa phương tạo điều kiện về quỹ đất để doanh nghiệp xây dựng vùng nguyên liệu, chủ động nguồn giống, ươm cây và hỗ trợ người dân mở rộng sản xuất, qua đó hình thành vùng dược liệu ổn định, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm địa phương,” chị Vui chia sẻ.
Từ một cây trồng, nếu chỉ bán nguyên liệu sẽ có một nguồn thu nhưng khi được chế biến thành tinh dầu, trà, cao, bột, mỹ phẩm hoặc sản phẩm chăm sóc sức khỏe, giá trị có thể được nâng lên nhiều lần. Đây chính là dư địa lớn để Nghệ An phát triển ngành dược liệu.
Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra yêu cầu phải thay đổi phương thức sản xuất. Theo đánh giá của ngành chuyên môn, nhiều cơ sở sản xuất dược liệu trên địa bàn còn nhỏ, thiết bị và công nghệ chế biến hạn chế, vùng nguyên liệu chưa lớn, chất lượng sản phẩm chưa đồng đều. Vì vậy, cần có doanh nghiệp đủ năng lực đầu tư nhà máy chế biến, tổ chức vùng nguyên liệu và bao tiêu sản phẩm.
Bà Võ Thị Nhung, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An cho rằng: Phát triển dược liệu cần sự phối hợp giữa ngành nông nghiệp, y tế và môi trường; đồng thời cần chính sách phù hợp để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào chế biến sâu.
Theo bà Nhung, việc hỗ trợ các mô hình sản xuất, phát triển sản phẩm OCOP sẽ giúp cây dược liệu vượt ra khỏi phạm vi những bài thuốc dân gian, từng bước trở thành ngành kinh tế xanh có khả năng mở rộng thị trường.
Một hướng đi khác đang được mở ra là kết hợp dược liệu với du lịch. Tại vùng Pù Mát, Công ty cổ phần Dược liệu Pù Mát đã kết hợp vùng trồng với phát triển du lịch canh nông, tạo không gian để du khách tham quan vùng nguyên liệu, tìm hiểu cây thuốc và các công đoạn sản xuất. Đây là hướng phát triển có nhiều tiềm năng khi Nghệ An sở hữu hệ sinh thái đa dạng, cùng hệ thống bản làng, văn hóa cộng đồng và các điểm du lịch sinh thái.
Một vùng chè hoa vàng, vườn dược liệu, đồi quế hay cánh đồng húng quế nếu được tổ chức bài bản có thể trở thành điểm trải nghiệm. Du khách không chỉ mua một hộp trà hay chai tinh dầu mà còn được biết sản phẩm được tạo ra như thế nào, cây được trồng ở đâu và câu chuyện văn hóa phía sau sản phẩm. Khi đó, dược liệu có thể tạo ra giá trị ở nhiều khâu: người dân có thu nhập từ vùng nguyên liệu; hợp tác xã có doanh thu từ sơ chế; doanh nghiệp thu lợi từ chế biến; địa phương có thêm sản phẩm OCOP và du lịch.
Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành một ngành kinh tế thực sự, Nghệ An cần giải quyết đồng thời nhiều vấn đề: quy hoạch vùng nguyên liệu phù hợp; bảo tồn nguồn gene quý; chuẩn hóa giống và quy trình sản xuất; nâng cao năng lực chế biến; xây dựng thương hiệu; truy xuất nguồn gốc và mở rộng thị trường.
Quan trọng hơn, cần hình thành mối liên kết bền vững giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò kết nối thị trường và tổ chức chuỗi giá trị./.






