Mã vùng trồng - giấy thông hành cho trái cây xuất khẩu
Chuẩn hóa mã số vùng trồng đang trở thành chìa khóa giúp nông sản Đồng Tháp nâng cao uy tín, đáp ứng yêu cầu của các thị trường xuất khẩu khó tính. Chuyển đổi số được xem là nền tảng để xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, minh bạch và bền vững.
Kiểm soát vùng trồng trước áp lực thị trường
Trong chuỗi hoạt động Lễ hội Trái cây Đồng Tháp lần I/2026, nhiều vấn đề liên quan đến phát triển bền vững ngành hàng trái cây đã được các chuyên gia, nhà quản lý và doanh nghiệp cùng trao đổi, trong đó có câu chuyện xây dựng vùng nguyên liệu gắn với mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu. Sự phát triển mạnh mẽ của ngành hàng trái cây đã đưa Đồng Tháp trở thành vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Đến hết tháng 6/2026, diện tích cây ăn trái của tỉnh ước đạt khoảng 135.331 ha, với sản lượng trong 6 tháng đầu năm đạt hơn 1,313 triệu tấn. Các loại cây chủ lực như sầu riêng, mít, dừa và xoài đang đóng vai trò quan trọng trong định hướng xuất khẩu. Tuy nhiên, khi thị trường thế giới ngày càng siết chặt các tiêu chuẩn, trái cây Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều rào cản kỹ thuật hơn.
Tình trạng nhiễm độc tố hay các yếu tố tồn dư trong sản phẩm thời gian qua đã trở thành chỉ dấu đáng lo ngại, làm suy giảm giá trị thương hiệu nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Nguyên nhân sâu xa xuất phát từ hoạt động sản xuất còn manh mún, thiếu sự đồng bộ trong quản lý vùng nguyên liệu. Trong bối cảnh các thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc hay Trung Quốc không chỉ quan tâm đến chất lượng, hương vị mà còn đặt ra những yêu cầu nghiêm ngặt về nguồn gốc xuất xứ và quy trình canh tác, những hạn chế trong quản lý mã vùng trồng ngày càng bộc lộ rõ, đòi hỏi sự thay đổi mạnh mẽ về tư duy sản xuất.
Chia sẻ về thực trạng này, bà Nhan Tuyết Trinh, Giám đốc phát triển nông nghiệp bền vững của Công ty cổ phần công nghiệp thực phẩm Thabico cho biết người tiêu dùng tại các thị trường lớn hiện nay không chỉ chú trọng đến chất lượng, hương vị hay giá cả. Họ còn quan tâm sâu sắc đến quy trình canh tác, mức độ an toàn thực phẩm và những tác động đến môi trường. Các yếu tố liên quan đến truy xuất nguồn gốc đang dần trở thành tiêu chí định hình niềm tin của người tiêu dùng đối với nông sản nhập khẩu, buộc các nhà sản xuất phải nhanh chóng thích ứng.
Đồng quan điểm, ông Lê Minh Hoan, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội nhận định việc xây dựng vùng nguyên liệu lớn mới chỉ là điều kiện cần. Để nông sản Đồng Tháp vươn xa hơn, người nông dân cần được đào tạo bài bản, canh tác chuyên nghiệp trong các hợp tác xã có tổ chức. Theo ông, cần xem mã vùng trồng như một tấm giấy thông hành để nông sản có thể thuận lợi bước vào những thị trường khó tính nhất bằng chính uy tín và chất lượng, từ đó chinh phục người tiêu dùng.
Thực tế cho thấy, hệ thống mã số vùng trồng hiện vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn trong công tác duy trì và kiểm soát chất lượng. Đại diện các doanh nghiệp xuất khẩu và hợp tác xã đã nhiều lần thẳng thắn chia sẻ về những trở ngại trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm. Chi phí logistics cùng áp lực từ các yêu cầu truy xuất nguồn gốc đang tạo gánh nặng không nhỏ cho các đơn vị sản xuất trực tiếp. Nếu không có những thay đổi mang tính hệ thống, việc duy trì vị thế trên thị trường quốc tế sẽ trở thành bài toán khó cần được giải quyết sớm.
Công nghệ số nâng tầm chuỗi giá trị
Trước những thách thức đặt ra, Đồng Tháp đang quyết liệt thúc đẩy chuyển đổi số, xem đây là giải pháp trọng tâm nhằm minh bạch hóa toàn bộ quá trình sản xuất. Ông Phạm Thành Ngại, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp khẳng định địa phương đã chuyển mạnh từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp. Hiện tỉnh có 3.496 mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu. Việc xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu tập trung, số hóa hồ sơ quản lý được xem là nền tảng quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời bảo đảm tính minh bạch cho nông sản.
Trong khi đó, ông Nguyễn Phước Thiện, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp cho biết tỉnh đang tích cực xây dựng kế hoạch mã số vùng trồng theo hướng chuẩn hóa. Công tác quản lý sẽ được thực hiện chặt chẽ hơn, kết hợp ứng dụng công nghệ hiện đại nhằm hạn chế tối đa các hành vi vi phạm. Mục tiêu cuối cùng là nâng cao uy tín sản phẩm, giải quyết hiệu quả các yêu cầu về an toàn thực phẩm, từ đó hình thành những vùng nguyên liệu đáp ứng đúng nhu cầu của người tiêu dùng thông minh và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững lâu dài.
Từ góc độ quản lý ngành, ông Lê Hà Luân, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp nhấn mạnh rằng để hình thành vùng nguyên liệu đúng nghĩa cần có những điều kiện đồng bộ. Trong đó bao gồm quy hoạch ổn định gắn với thị trường, hợp tác xã đủ năng lực quản trị và doanh nghiệp tham gia ngay từ đầu với chất lượng được kiểm soát. Sự kết hợp giữa hạ tầng hiện đại, cơ chế liên kết chặt chẽ và dữ liệu quản lý minh bạch sẽ tạo nên bệ đỡ vững chắc cho chuỗi giá trị nông sản hiện đại, góp phần đưa thương hiệu trái cây Đồng Tháp vươn tầm thế giới.
Ở khía cạnh quy hoạch vùng, ông Phan Minh Thông, đại diện Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp gợi ý Đồng Tháp cần tổ chức lại sản xuất theo các tiểu vùng sinh thái. Việc hình thành các vùng chuyên canh quy mô lớn cần gắn liền với hệ thống sơ chế, kho lạnh và logistics lạnh. Theo ông, vùng nguyên liệu không thể chỉ dừng lại ở việc cung cấp nông sản thô mà phải trở thành một hệ sinh thái kinh tế nông nghiệp hiện đại, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn vào quản lý sản xuất, đồng thời phát triển nông nghiệp tuần hoàn và nông nghiệp sinh học.
Đồng hành cùng sự thay đổi này, Tiến sĩ Nguyễn Thành Hiếu, Phó Viện trưởng Viện Cây ăn quả miền Nam cho rằng cần tăng cường bảo tồn hệ thống cây đầu dòng để phục vụ sản xuất giống chất lượng cao. Ông nhấn mạnh doanh nghiệp và người dân cần chú trọng tiêu chuẩn sản phẩm thay vì chạy theo sản lượng. Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật và số hóa công tác quản lý chính là con đường ngắn nhất để nâng cao năng lực cạnh tranh cho trái cây địa phương. Khi công nghệ và tư duy quản trị được kết hợp hài hòa, Đồng Tháp sẽ hiện thực hóa mục tiêu trở thành trung tâm sản xuất trái cây kiểu mẫu của vùng đồng bằng.



