Từ phong trào “Bình dân học vụ số” đến nâng cao năng lực số của công chức cấp xã ở tỉnh Lào Cai

Khoa học và Công nghệ 20/04/2026 10:27

Thời gian vừa qua, phong trào “Bình dân học vụ số” được phát động tại khắp các tỉnh thành không chỉ góp phần phổ cập kỹ năng số cho người dân mà còn tạo động lực quan trọng để nâng cao năng lực số của đội ngũ công chức cấp xã. Từ thực tiễn một số xã, phường trên địa bàn tỉnh Lào Cai, có thể thấy phong trào này đang từng bước trở thành cầu nối giữa nâng cao dân trí số với đổi mới phương thức thực thi công vụ, góp phần hình thành đội ngũ công chức cơ sở thích ứng tốt hơn với yêu cầu xây dựng chính quyền số, xã hội số trong giai đoạn mới.

dt_1776655540.jpg
Các tổ công nghệ số cộng đồng tỉnh Lào Cai đi từng ngõ, gõ từng nhà, hướng dẫn người dân cài đặt các ứng dụng trên điện thoại.

Trong tiến trình chuyển đổi số hiện nay, cấp xã không còn chỉ là nơi “tiếp nhận và thực hiện” chủ trương, chính sách từ cấp trên, mà đang trở thành không gian trực tiếp vận hành chính quyền số, cung ứng dịch vụ công số và hướng dẫn người dân tham gia xã hội số. Trong bối cảnh đó, phong trào “Bình dân học vụ số” có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi một chiến dịch tuyên truyền hay phổ cập kỹ năng sử dụng công nghệ cho cộng đồng. Từ thực tiễn một số xã, phường ở tỉnh Lào Cai, có thể thấy phong trào này đang từng bước trở thành cầu nối giữa nâng cao dân trí số và phát triển năng lực số của đội ngũ công chức cấp xã.

Về bản chất, “Bình dân học vụ số” không chỉ nhằm giúp người dân biết sử dụng dịch vụ công trực tuyến, ứng dụng định danh điện tử hay thanh toán không dùng tiền mặt, mà còn tạo ra một môi trường học tập số rộng khắp ở cơ sở. Trong môi trường đó, công chức cấp xã đồng thời là người học, người tổ chức, người hướng dẫn và người thực hành. Chính sự đan xen này làm cho phong trào không dừng ở phổ cập kỹ năng công nghệ đơn giản, mà tác động trực tiếp đến cách công chức làm việc, phối hợp, khai thác dữ liệu và phục vụ Nhân dân trên nền tảng số.

Thực tiễn tại một số địa phương trên địa bàn tỉnh Lào Cai cho thấy, phong trào “Bình dân học vụ số” được đặt trong khuôn khổ tổ chức tương đối bài bản. Các xã, phường đồng loạt ban hành các kế hoạch về tuyên truyền, triển khai thực hiện phong trào này, tạo ra một “làn sóng học tập” trong toàn tỉnh. Tại phường Yên Bái, địa phương này không chỉ ban hành Kế hoạch số 08-KH/ĐU về tuyên truyền phong trào và Kế hoạch số 10-KH/BCĐ về triển khai phong trào “Bình dân học vụ số” trên địa bàn phường năm 2025, mà còn lồng ghép phong trào vào hệ thống chỉ đạo chung về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Chỉ riêng trong năm 2025, phường đã ban hành cùng 115 văn bản chỉ đạo liên quan đến nhiệm vụ này; đồng thời xây dựng chuyên mục riêng về phong trào trên Cổng thông tin điện tử để tuyên truyền mục đích, ý nghĩa, học liệu và các hoạt động cụ thể. Điều đó cho thấy “Bình dân học vụ số” ở đây không được triển khai như một hoạt động rời rạc, mà được đặt trong cấu trúc lãnh đạo, điều hành chính thức của cấp ủy, chính quyền cơ sở. Trên thực tế vận hành, tỷ lệ cán bộ, công chức phường Yên Bái được tập huấn, bồi dưỡng, phổ cập kỹ năng số cơ bản đạt 100%; tỷ lệ biết khai thác, sử dụng các nền tảng AI hữu dụng đạt 90%; tỷ lệ trao đổi văn bản điện tử có ký số đạt 100%[1]. Như vậy, từ nền tảng của phong trào phổ cập số, phường đã bắt đầu dịch chuyển sang bồi dưỡng các năng lực số ở mức cao hơn, không chỉ là thao tác hệ thống mà còn là khai thác dữ liệu, ứng dụng AI và nâng cao chất lượng tham mưu, điều hành.

Không chỉ ở phường trung tâm, tác động của phong trào cũng thể hiện khá rõ tại xã Pha Long, một địa bàn miền núi, biên giới còn nhiều khó khăn. Tại đây, Đảng ủy và UBND xã duy trì tuyên truyền về chuyển đổi số qua đài truyền thanh, Zalo, fanpage và các hội nghị chuyên đề; đồng thời gắn việc phổ biến chuyển đổi số với hướng dẫn người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ công trên môi trường số. Báo cáo năm 2025 của xã cho thấy 100% cán bộ, công chức, viên chức được cấp máy vi tính có kết nối internet tốc độ cao; 100% nhà văn hóa thôn có wifi; 100% lãnh đạo cơ quan, đơn vị sử dụng thành thạo chữ ký số; 100% cán bộ, công chức thường xuyên sử dụng phần mềm quản lý văn bản và điều hành[2]. Đáng chú ý, tỷ lệ cán bộ, công chức được bồi dưỡng kỹ năng số đạt trên 80%, thông qua học trực tuyến và các lớp tập huấn, hội nghị chuyên đề do tỉnh tổ chức. Những con số này cho thấy “Bình dân học vụ số” ở địa bàn vùng cao đã góp phần tạo ra mặt bằng kỹ năng số tối thiểu để công chức có thể tham gia thực chất vào tiến trình chuyển đổi số ở cơ sở.

Tuy nhiên, thực tiễn Pha Long cũng chỉ ra rất rõ rằng từ phong trào đến năng lực thực chất vẫn còn một khoảng cách. Từ hạn chế về nguồn nhân lực phục vụ chuyển đổi số còn thiếu; cán bộ chuyển đổi số chủ yếu kiêm nhiệm nhiều vị trí; người dân chưa quen với dịch vụ công trực tuyến và vẫn có xu hướng đến trực tiếp trụ sở; ở một số thôn, báo cáo thông tin vẫn thực hiện bằng cách ghi chép thủ công rồi chụp ảnh gửi qua Zalo; chất lượng sóng ở một số điểm còn yếu, ảnh hưởng đến việc đưa nền tảng số và kỹ năng số đến người dân. Điều này cho thấy “Bình dân học vụ số” có thể mở đầu cho thay đổi nhận thức và kỹ năng, nhưng để chuyển thành năng lực số bền vững của công chức cấp xã thì phải đồng thời giải quyết các vấn đề về hạ tầng, cơ chế kiêm nhiệm và phương pháp đào tạo gắn với công việc thực tế.

Tại xã Thác Bà, mối liên hệ giữa phong trào “Bình dân học vụ số” và nâng cao năng lực số của công chức còn thể hiện đậm nét hơn. Địa phương đã ban hành Kế hoạch số 58/KH-UBND ngày 9/9/2025 để triển khai phong trào trên địa bàn; đồng thời thành lập 52 tổ công nghệ số cộng đồng cấp thôn, duy trì giao ban định kỳ của Ban Chỉ đạo và khen thưởng các tập thể, cá nhân có cách làm sáng tạo trong phong trào. Trong năm 2025 xã đã phát động phong trào học tập số nhằm phổ cập kỹ năng số cho cán bộ, công chức và toàn thể Nhân dân thông qua các lớp học và các nền tảng trực tuyến; lực lượng nòng cốt là đoàn thanh niên, trường học và các tổ công nghệ số cộng đồng. Điều đó cho thấy rằng tại đây phong trào không chỉ hướng vào người dân mà còn đặt đội ngũ công chức vào vị trí trung tâm của quá trình tổ chức, vận hành và lan tỏa tri thức số. Đồng thời, Thác Bà cũng cho thấy một phương diện rất quan trọng: phong trào chỉ phát huy hiệu quả khi được tổ chức thành mạng lưới hỗ trợ thường xuyên ở cơ sở. Các tổ công nghệ số cộng đồng đã tổ chức 8 buổi tuyên truyền, hướng dẫn trực tiếp tại thôn, trường học và khu chợ, thu hút trên 265 lượt người dân tham gia; nội dung tập trung vào đăng ký tài khoản định danh điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt, cài đặt và sử dụng các ứng dụng thiết yếu như VNeID, VssID, sổ sức khỏe điện tử, thanh toán dịch vụ công và hóa đơn điện tử[3]. Trong quá trình đó, công chức cấp xã không chỉ tiếp nhận tri thức số từ các lớp tập huấn mà còn được “rèn năng lực” thông qua việc trực tiếp hướng dẫn, giải thích, xử lý tình huống và hỗ trợ người dân. Chính hoạt động hướng dẫn cộng đồng này là một hình thức đào tạo ngược rất quan trọng: càng tham gia hỗ trợ người dân, công chức càng phải làm chủ quy trình số, công cụ số và kỹ năng giao tiếp trong môi trường số.

Có thể thấy “Bình dân học vụ số” đã tác động đến năng lực số của công chức cấp xã theo ít nhất ba phương diện. Thứ nhất, phong trào nâng cao nhận thức, giúp công chức nhìn chuyển đổi số không còn là một nhiệm vụ kỹ thuật riêng của bộ phận chuyên môn, mà là yêu cầu chung của quản lý, điều hành và phục vụ Nhân dân. Thứ hai, phong trào mở rộng cơ hội học tập linh hoạt, thông qua nền tảng số, các lớp trực tuyến, chuyên đề AI, khai thác dữ liệu và các mô hình “học mọi lúc, mọi nơi”. Thứ ba, phong trào tạo ra môi trường thực hành số ngay tại cơ sở, nơi công chức vừa là học viên vừa là hạt nhân hướng dẫn cộng đồng, qua đó củng cố năng lực vận hành hệ thống, khai thác dữ liệu và thích ứng với thể chế số.

Tuy nhiên, tại một số xã, phường trên địa bàn tỉnh Lào Cai, phong trào mới dừng chủ yếu ở khâu tuyên truyền, lập kế hoạch và mở lớp, trong khi sự chuyển hóa thành năng lực số sâu của công chức vẫn chưa đồng đều. Nguyên nhân chủ yếu do thiếu nhân lực, công chức phải kiêm nhiệm nhiều vị trí công việc; trang thiết bị chưa đồng bộ, một số lãnh đạo và công chức phụ trách còn hạn chế về chuyên môn công nghệ thông tin. Nói cách khác, phong trào đã tạo động lực ban đầu, nhưng chặng đường từ phổ cập kỹ năng số sang hình thành năng lực số chuyên nghiệp vẫn còn khá dài.

Từ thực tiễn đó, để phong trào “Bình dân học vụ số” thực sự trở thành đòn bẩy nâng cao năng lực số của công chức cấp xã ở tỉnh Lào Cai, trước hết, phải thể chế hóa phong trào thành một cơ chế bồi dưỡng thường xuyên cho công chức cấp xã, không chỉ dừng ở phong trào tuyên truyền theo đợt. Tiếp đó, nội dung đào tạo cần được thiết kế theo vị trí việc làm và yêu cầu thực thi công vụ. Công chức tư pháp - hộ tịch, văn phòng - thống kê, địa chính, văn hóa - xã hội hay bộ phận một cửa không thể chỉ học cùng một bộ kỹ năng chung chung. Họ cần được bồi dưỡng theo ba lớp năng lực: năng lực vận hành hệ thống số; năng lực khai thác và xử lý dữ liệu; và năng lực thích ứng thể chế số, gồm tư duy phục vụ trên môi trường số, an toàn thông tin, phối hợp liên thông và kỹ năng hướng dẫn người dân. Khi đó, “Bình dân học vụ số” sẽ không chỉ là phổ cập kỹ năng công nghệ, mà trở thành nền tảng của một mô hình phát triển nguồn nhân lực số ở cấp xã.

Bên cạnh đó, cần gắn phong trào với hoạt động của tổ công nghệ số cộng đồng theo hướng thực chất hơn. Các báo cáo cho thấy nơi nào tổ công nghệ số cộng đồng hoạt động hiệu quả, nơi đó người dân tiếp cận dịch vụ số tốt hơn và công chức cũng có thêm môi trường hỗ trợ lẫn nhau trong thực thi nhiệm vụ. Nhưng ngược lại, nếu tổ chỉ tồn tại về hình thức, thiếu nhiệt tình hoặc thiếu kỹ năng, hiệu quả sẽ giảm đáng kể. Vì vậy, cần có cơ chế lựa chọn hạt nhân phù hợp, giao nhiệm vụ rõ ràng, gắn với kết quả hỗ trợ người dân và kết quả nâng cao năng lực số của cán bộ cơ sở.

Cuối cùng, phong trào chỉ bền vững khi đi đôi với đầu tư điều kiện để thực hiện hiệu quả trên thực tế. Không thể kỳ vọng công chức làm chủ môi trường số nếu máy tính cũ, đường truyền thiếu ổn định, thiếu nhân sự kỹ thuật hỗ trợ và mọi nhiệm vụ vẫn dồn lên đội ngũ kiêm nhiệm. Bởi vậy, nâng cao năng lực số của công chức cấp xã phải được nhìn như một bài toán tổng hợp giữa đào tạo, hạ tầng, tổ chức bộ máy và cơ chế đánh giá. Trong đó, kết quả cuối cùng không nên đo bằng số lượng lớp tập huấn hay số chứng chỉ, mà bằng khả năng xử lý công việc trên môi trường số, chất lượng phục vụ người dân, mức độ khai thác dữ liệu và hiệu quả phối hợp liên thông tại cơ sở.

Có thể khẳng định rằng, từ thực tiễn tỉnh Lào Cai, phong trào “Bình dân học vụ số” đang tạo ra một chuyển biến quan trọng: từ nâng cao dân trí số trong cộng đồng đến thúc đẩy nâng cao năng lực số của công chức cấp xã. Giá trị lớn nhất của phong trào không chỉ nằm ở việc giúp người dân biết dùng công nghệ, mà còn ở chỗ tạo ra một môi trường hành chính - xã hội mới, trong đó công chức cấp xã buộc phải học tập liên tục, thích ứng liên tục và phục vụ trên nền tảng số ngày càng thực chất hơn.

[1] Báo cáo số 228/BC-UBND ngày 23/11/2025 của UBND phường Yên Bái về Kết quả triển khai thực hiện công tác chuyển đổi số năm 2025 và Đề án “Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số Quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030”;

[2] Báo cáo số 103-BC/ĐU ngày 09/12/2025 của Đảng ủy xã Pha Long về Kết quả thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;

[3] Báo cáo số 218/BC-UBND ngày 12/12/2025 của UBND xã Thác Bà về Về kết quả công tác Chuyển đổi số năm 2025 trên địa bàn xã Thác Bà;

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Báo cáo số 218/BC-UBND ngày 12/12/2025 của UBND xã Thác Bà về Về kết quả công tác Chuyển đổi số năm 2025 trên địa bàn xã Thác Bà;

2. Báo cáo số 228/BC-UBND ngày 23/11/2025 của UBND phường Yên Bái về Kết quả triển khai thực hiện công tác chuyển đổi số năm 2025 và Đề án “Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số Quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030”;

3. Báo cáo số 103-BC/ĐU ngày 09/12/2025 của Đảng ủy xã Pha Long về Kết quả thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;

4. Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW ngày 19/6/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về thúc đẩy chuyển đổi số liên thông, đồng bộ, nhanh, hiệu quả đáp ứng yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.

 

 

GV. Nguyễn Thúy Hằng (Trường Chính trị tỉnh Lào Cai)
Tin đáng đọc