Giỗ Tổ Hùng Vương 2026: Khơi dậy sức mạnh cội nguồn dân tộc Việt Nam

Thương hiệu 21/04/2026 11:00

Tín ngưỡng thờ cúng các Vua Hùng từ lâu đã kết tinh thành một biểu tượng văn hóa sâu sắc, đồng thời là sợi dây tâm linh gắn kết các thế hệ người Việt. Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, ngày lễ mùng 10 tháng 3 âm lịch năm Bính Ngọ 2026 không chỉ là hoạt động tưởng niệm tổ tiên, mà còn trở thành điểm tựa tinh thần vững chãi, góp phần củng cố sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thách thức bảo tồn bản sắc văn hóa trong dòng chảy hội nhập

vnghe_1776741242.jpg
Việc giữ gìn bản sắc trong hội nhập không thể chỉ dừng ở hình thức tổ chức, mà cần sự thấu hiểu đầy đủ về lịch sử và giá trị tinh thần cốt lõi.

Lịch sử dân tộc Việt Nam khởi nguồn từ thời đại Hùng Vương với những dấu ấn khai sơn phá thạch, đặt nền móng cho nhà nước Văn Lang sơ khai. Suốt hàng ngàn năm, các triều đại từ nhà Trần, Hậu Lê đến nhà Nguyễn đều duy trì việc hương khói tại Đền Hùng như một cách khẳng định cội nguồn dân tộc. Đến thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống này tiếp tục được nâng tầm khi Giỗ Tổ Hùng Vương trở thành Quốc lễ, đồng thời được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại vào cuối năm 2012. Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển nhanh và chuyển đổi số mạnh mẽ, việc gìn giữ những giá trị cốt lõi này đang đối diện nguy cơ mai một và biến đổi theo thời gian.

Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian tỉnh Phú Thọ Phạm Bá Khiêm cho rằng sự tồn tại của một ngày giỗ chung cho toàn dân là nét đặc trưng hiếm có trên thế giới. Theo ông, tín ngưỡng này mang giá trị xã hội sâu sắc khi biến huyền thoại bọc trăm trứng thành ý thức cộng đồng bền chặt trong tâm thức mỗi người Việt. Tuy vậy, ông cũng bày tỏ lo ngại rằng đời sống hiện đại có thể làm suy giảm tính thiêng nếu các hoạt động thực hành văn hóa không được đầu tư đúng mức về chiều sâu. Vì thế, việc giữ gìn bản sắc trong hội nhập không thể chỉ dừng ở hình thức tổ chức, mà cần sự thấu hiểu đầy đủ về lịch sử và giá trị tinh thần cốt lõi.

Sự thay đổi địa giới hành chính năm 2026, với không gian liên kết giữa Phú Thọ và các khu vực lân cận như Vĩnh Phúc cũ, Hòa Bình cũ, cũng đặt ra những yêu cầu mới trong công tác tổ chức và quản lý lễ hội. Ông Nguyễn Huy Ngọc, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ, cho biết quy mô lễ hội năm nay được mở rộng với hơn 25 chương trình kéo dài trong 10 ngày. Theo ông, điều quan trọng là phải giữ vững tính trang nghiêm của phần lễ, đồng thời phát huy sự đa dạng của phần hội để tăng cường giao lưu văn hóa giữa các địa phương. Ông nhấn mạnh việc khai thác du lịch vùng đất Tổ cần song hành với bảo vệ giá trị di sản, tuyệt đối tránh thương mại hóa hoặc mê tín hóa tại không gian linh thiêng.

Bên cạnh đó, việc đưa văn hóa truyền thống đến gần hơn với thế hệ trẻ đang trở thành thách thức trong bối cảnh các loại hình giải trí hiện đại phát triển mạnh. Nhà giáo hưu trí Nguyễn Tâm (Mê Linh, Hà Nội) ghi nhận nhiều nỗ lực trong việc tổ chức thực hành di sản phi vật thể tại hội trại năm nay. Ông cho rằng sự thành kính không chỉ nằm ở nghi thức khói hương, mà còn thể hiện qua cách các nghệ nhân và diễn viên quần chúng tái hiện di sản một cách bài bản, có chiều sâu. Theo ông, nếu thiếu đầu tư nghiêm túc cho các hoạt động thực tế tại 18 cụm hội trại, lễ hội sẽ khó tạo được sức lan tỏa bền vững đối với thế hệ trẻ và du khách.

Phát huy giá trị di sản gắn với sức mạnh đại đoàn kết

vanngh_1776740515.jpg
Tiết mục nghệ thuật khai mạc tại Trung tâm Lễ hội Đền Hùng. Ảnh: Nghĩa Đồng

Trước yêu cầu bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống, tỉnh Phú Thọ đã triển khai mô hình tổ chức linh hoạt, đưa lễ hội trở về đúng bản chất là ngày hội của nhân dân. Việc phân chia theo 18 cụm xã, phường đã tạo ra động lực mới, khi mỗi địa phương trở thành một chủ thể văn hóa chủ động và có trách nhiệm. Ông Dương Hoàng Hương, Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ, khẳng định mô hình này giúp huy động hiệu quả nguồn lực từ cơ sở và tăng cường tính gắn kết cộng đồng. Theo ông, Giỗ Tổ Hùng Vương là biểu tượng của tinh thần yêu nước, đồng thời là điểm tựa để mỗi người con đất Việt bồi đắp niềm tự hào dân tộc trong đời sống hiện đại.

Sự tham gia của cộng đồng không chỉ dừng lại ở các nghi thức rước kiệu hay tế lễ, mà còn lan tỏa mạnh mẽ qua những hoạt động trải nghiệm dân gian như gói bánh chưng, giã bánh giầy. Sinh viên Hà Thị Hân (Đại học Văn hóa Hà Nội) bày tỏ niềm hào hứng khi trực tiếp tham gia các hoạt động tại 18 trại văn hóa. Theo cô, lễ hội năm nay giống như một “trường học di sản” quy mô lớn, giúp thế hệ trẻ hiểu sâu hơn về lịch sử và truyền thống thời các Vua Hùng dựng nước. Việc người trẻ chủ động tham gia các hoạt động dân gian cũng cho thấy sự tiếp nối tự nhiên và bền bỉ của dòng chảy văn hóa Việt.

Không chỉ dừng lại ở phương thức truyền thống, quá trình số hóa di sản cũng đang mở ra hướng tiếp cận mới trong bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa. Hệ thống mã QR, bản đồ điện tử và công nghệ thực tế ảo tái hiện kinh đô Văn Lang giúp du khách tiếp cận thông tin nhanh chóng và thuận tiện hơn. Sinh viên Tống Thanh Phương (Đại học FPT) đánh giá cao những đổi mới này, cho rằng công nghệ đã giúp trải nghiệm lễ hội trở nên sinh động và dễ tiếp cận hơn. Đồng thời, di sản cũng không còn đứng yên trong quá khứ, mà trở thành một thực thể sống, gắn với nhịp vận động của thời đại số.

Sức mạnh đại đoàn kết dân tộc được thể hiện rõ nhất qua văn hóa ứng xử của cộng đồng và sự trở về của những người con xa quê. Từ ý thức giữ gìn vệ sinh chung đến tinh thần hỗ trợ nhau trong hành lễ, tất cả góp phần tạo nên một không gian lễ hội văn minh và giàu bản sắc. Cô Nguyễn Thị Tân Hồng, giáo viên Lịch sử Trường THPT Việt Trì, nhấn mạnh rằng văn hóa chính là sợi dây bền chặt nhất kết nối con người Việt Nam. Khi mỗi cá nhân hiểu rõ cội nguồn và trách nhiệm của mình, sức mạnh dân tộc sẽ được bồi đắp một cách bền vững. Đền Hùng vì thế không chỉ là nơi tưởng niệm tổ tiên, mà còn là biểu tượng của niềm tin và sự đoàn kết, giúp dân tộc Việt Nam vững vàng hướng tới tương lai hùng cường.

Trúc Mai
Tin đáng đọc