Đào tạo nghề mở hướng sinh kế mới cho lao động nông thôn
Khi sản xuất nông nghiệp chuyển dần sang chuyên nghiệp và hiện đại, đào tạo nghề cho lao động nông thôn cũng cần thay đổi để sát nhu cầu thực tế, gắn kỹ năng với việc làm, vốn, công nghệ và thị trường tiêu thụ.
Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn, học nghề không chỉ nhằm giúp người dân có thêm kỹ năng sản xuất mà còn hướng tới nâng cao năng suất, thu nhập và mở rộng cơ hội việc làm. Thực tế tại nhiều địa phương cho thấy, những chương trình đào tạo sát nhu cầu, tăng thực hành và gắn với đầu ra đang giúp nông dân từng bước thay đổi phương thức sản xuất.
Học nghề để nâng cao hiệu quả sản xuất
Tại thôn Đồng Thủy, xã Kép, thành phố Bắc Ninh, bà Lý Thị Mít, 60 tuổi, vẫn duy trì sản xuất nông nghiệp và trồng rừng. Sau khi tham gia các lớp học nghề trồng trọt do Hội Nông dân thành phố tổ chức cùng các chương trình tập huấn kỹ thuật, bà đã áp dụng những kiến thức được hướng dẫn vào thực tế.
Từ việc lựa chọn giống, vật tư đến chăm sóc cây trồng, bà Mít chú trọng hơn đến năng suất và chất lượng sản phẩm.
“Nhờ được học, tôi biết thêm cách tạo năng suất cao hơn, sản phẩm đẹp hơn, giá bán cũng tốt hơn. Thu nhập của gia đình tăng từ khoảng 30 triệu đồng lên 50 triệu đồng hằng năm”, bà Mít chia sẻ.
Theo bà, để việc học nghề phát huy hiệu quả lâu dài, nông dân vẫn cần được hỗ trợ thêm về vốn, giống, kỹ thuật và đầu ra sản phẩm. Cùng với đó, hạ tầng giao thông và hệ thống điện phục vụ sản xuất cũng cần tiếp tục được cải thiện.
Tại xã Yên Châu, tỉnh Sơn La, anh Mè Văn Chiến, 56 tuổi, kết hợp chăn nuôi với trồng cây ăn quả. Gia đình anh duy trì khoảng hai lứa gà thả vườn mỗi năm, mỗi lứa khoảng 700 con, đồng thời chăm sóc nhãn và xoài với sản lượng khoảng 10 tấn quả.
Thông qua các lớp tập huấn kỹ thuật, anh chú trọng hơn đến vệ sinh chuồng trại, phòng chống dịch bệnh, sử dụng phân bón hợp lý và chăm sóc cây trồng.
Tuy nhiên, theo anh Chiến, nội dung đào tạo cần sát hơn với điều kiện sản xuất thực tế của từng hộ, đồng thời tăng thời lượng thực hành.
“Gia đình tôi mong muốn được học theo hình thức cầm tay chỉ việc, nhất là kỹ thuật mới trong chăn nuôi, chăm sóc cây ăn quả và phòng, chống dịch bệnh”, anh Chiến nói.
Những trường hợp trên cho thấy đào tạo nghề có thể góp phần thay đổi phương thức sản xuất, nâng năng suất và cải thiện thu nhập. Tuy nhiên, hiệu quả sau đào tạo không chỉ phụ thuộc vào kiến thức được truyền đạt mà còn liên quan đến vốn, kỹ thuật, thị trường và khả năng liên kết sản xuất.
Đào tạo phải đi cùng việc làm và đầu ra
Tại Yên Châu, Hội Nông dân xã đang định hướng đào tạo dựa trên nhu cầu sản xuất và lợi thế của địa phương. Nội dung người dân quan tâm ngày càng mở rộng, từ ứng dụng khoa học kỹ thuật, sản xuất an toàn đến xây dựng sản phẩm OCOP, quản lý mã vùng trồng, liên kết tiêu thụ và chuyển đổi số.
Đối với cây ăn quả, các lớp hướng dẫn tập trung vào kỹ thuật chăm sóc xoài, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, sử dụng vật tư an toàn, ứng dụng hệ thống tưới tự động và tiết kiệm nước. Trong chăn nuôi, mô hình gà thả đồi được chú trọng vì phù hợp với điều kiện đất đai, đồng thời tạo thêm việc làm và nguồn thu cho hộ gia đình.
Ông Quàng Văn Công, Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, Chủ tịch Hội Nông dân xã Yên Châu, cho rằng đào tạo nghề cần chuyển từ cách làm đơn thuần là mở lớp sang xác định rõ sinh kế sau đào tạo.
“Điều quan trọng là chuyển cách tiếp cận từ đào tạo nghề sang đào tạo gắn với việc làm và sinh kế. Trước khi tổ chức lớp học phải xác định người dân cần học gì, học xong áp dụng ở đâu và sản phẩm sẽ tiêu thụ như thế nào”, ông Công nói.
Tại thành phố Bắc Ninh, quá trình phát triển công nghiệp và đô thị hóa cũng đang làm thay đổi nhanh cơ cấu việc làm ở khu vực nông thôn.
Chủ tịch Hội Nông dân thành phố Bắc Ninh Nguyễn Hoàng Trung cho biết, Hội phân nhóm nhu cầu của hội viên để có phương án hỗ trợ phù hợp. Theo đó, đào tạo cần xuất phát từ nhu cầu sử dụng lao động và phương án sinh kế cụ thể.
Đối với những người tiếp tục sản xuất nông nghiệp, nội dung đào tạo cần mở rộng sang quản trị, thị trường, bảo quản, chế biến, thương mại điện tử và liên kết chuỗi. Với lao động có nhu cầu chuyển nghề, cần kết nối với doanh nghiệp, khu công nghiệp, cụm công nghiệp ngay trong quá trình đào tạo.
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội dưới 20%; bình quân mỗi năm đào tạo nghề cho khoảng 1,5 triệu lao động nông thôn. Nghị quyết cũng yêu cầu đổi mới hình thức tổ chức và nội dung đào tạo, nâng cao kỹ năng nghề, đáp ứng nhu cầu thị trường.
Lấy việc làm, thu nhập làm thước đo
Thực tế triển khai cho thấy khoảng cách giữa học nghề và việc làm sau đào tạo vẫn cần tiếp tục được thu hẹp.
Ông Ngô Xuân Liễu, Giám đốc Trung tâm Quốc gia về Dịch vụ việc làm, cho biết lao động khu vực nông nghiệp, nông thôn những năm qua đã có sự dịch chuyển đáng kể sang công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ.
Theo ông Liễu, đào tạo, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cần bảo đảm đủ thời lượng để người lao động có thể thực hành, hành nghề và chủ động hơn trong công việc. Nếu thời gian đào tạo quá ngắn, người lao động có thể tìm được việc làm nhưng giá trị gia tăng tạo ra chưa tương xứng.
Trong khi đó, ông Nguyễn Xuân Định, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, cho rằng đào tạo nghề cho nông dân cần thay đổi cả về tư duy, nội dung và phương thức. Việc đào tạo cần chuyển từ khả năng của cơ sở đào tạo sang nhu cầu của người học, thị trường và doanh nghiệp, đồng thời gắn với lợi thế của từng địa phương.
Đối với nông dân tiếp tục sản xuất, nội dung đào tạo không chỉ dừng ở kỹ thuật mà cần mở rộng sang quản trị, thị trường, chế biến, bảo quản, thương mại điện tử, chuyển đổi số, sản xuất xanh, hữu cơ, tuần hoàn và tham gia chuỗi giá trị. Qua đó, người dân từng bước chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp.
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn vì thế cần phục vụ đồng thời hai hướng: hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp, có kiến thức, kỹ năng và khả năng làm chủ khoa học công nghệ; đồng thời đào tạo, đào tạo lại để lao động nông thôn có thể chuyển sang công nghiệp, dịch vụ và những ngành nghề phù hợp.
Để đạt mục tiêu này, các địa phương cần khảo sát đồng thời nhu cầu học nghề của người dân, nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp và xu hướng phát triển kinh tế để lựa chọn ngành nghề phù hợp. Hình thức đào tạo theo địa chỉ, theo đơn đặt hàng cần được tăng cường, cùng với đó là sự liên kết giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp, Hội Nông dân, doanh nghiệp, hợp tác xã và chính quyền.
Đặc biệt, hỗ trợ sau đào tạo có ý nghĩa quan trọng. Người học cần có cơ hội tiếp cận vốn, khoa học công nghệ, tư vấn khởi nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp và thị trường tiêu thụ.
Khi đó, hiệu quả của một chương trình đào tạo nghề không chỉ được tính bằng số người tham gia hay số lớp được tổ chức, mà cần được thể hiện bằng việc làm, sinh kế ổn định, năng suất lao động và thu nhập thực tế của người nông dân.