Vĩnh Long nâng tầm ngành tôm bằng công nghệ cao hướng mạnh vào xuất khẩu
Nuôi tôm thẻ chân trắng công nghệ cao đang trở thành hướng phát triển quan trọng của ngành thủy sản Vĩnh Long, với năng suất cao gấp nhiều lần phương thức truyền thống và lợi nhuận hàng trăm triệu đồng mỗi ha. Tỉnh đang tiếp tục mở rộng vùng nuôi, đầu tư hạ tầng và thu hút dự án chế biến sâu nhằm nâng giá trị tôm xuất khẩu.
Trong 8 tháng đầu năm 2026, nuôi trồng thủy sản tiếp tục đóng góp đáng kể vào sản lượng và kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Vĩnh Long. Trong đó, mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng ứng dụng công nghệ cao ngày càng cho thấy hiệu quả rõ nét cả về năng suất, kiểm soát rủi ro và khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long, tổng diện tích thả nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng trên địa bàn đạt khoảng 65.185 ha, với sản lượng thu hoạch gần 163.000 tấn. Đáng chú ý, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng ứng dụng công nghệ cao đã vượt 6.325 ha, đạt năng suất khoảng 40 - 60 tấn/ha, với sản lượng hơn 88.000 tấn. So với phương thức nuôi truyền thống, năng suất của mô hình công nghệ cao cao gấp 4 - 5 lần.
Theo ông Phạm Minh Truyền, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long, từ nay đến cuối năm 2026, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng công nghệ cao dự kiến tiếp tục được mở rộng lên khoảng 8.175 ha, tăng hơn 675 ha so với năm 2025. Không chỉ tạo năng suất cao, mô hình nuôi tôm công nghệ cao còn mang lại hiệu quả kinh tế đáng kể. Lợi nhuận ròng có thể đạt khoảng 500 - 700 triệu đồng/ha/vụ, tùy quy mô và điều kiện sản xuất.
Điểm khác biệt của mô hình nằm ở việc ứng dụng công nghệ số kết hợp hệ thống tuần hoàn khép kín. Các cảm biến thông minh giúp người nuôi theo dõi liên tục những chỉ tiêu quan trọng như chất lượng nước, nhiệt độ và hàm lượng oxy hòa tan. Dữ liệu được cập nhật thường xuyên giúp người nuôi đưa ra các điều chỉnh kỹ thuật kịp thời, hạn chế những biến động bất lợi trong môi trường ao nuôi.
Quy trình khép kín cũng giúp hạn chế nguy cơ mầm bệnh xâm nhập từ môi trường bên ngoài, đồng thời rút ngắn thời gian nuôi và tối ưu lượng thức ăn. Đây là những yếu tố có ý nghĩa lớn trong bối cảnh chi phí đầu vào ngày càng trở thành vấn đề quan trọng đối với người nuôi tôm.
Tại phường Trường Long Hòa, một trong những vùng nuôi tôm trọng điểm của Vĩnh Long, xu hướng chuyển đổi sang mô hình siêu thâm canh ứng dụng công nghệ cao đang diễn ra mạnh mẽ. Sau gần 3 năm, nhiều hộ dân đã chuyển từ phương thức quảng canh sang nuôi khép kín, siêu thâm canh nhiều giai đoạn. Toàn phường hiện có hơn 4.410 ha nuôi tôm siêu thâm canh công nghệ cao.
Ông Lê Thanh Truyền, ở khóm Ba Động, phường Trường Long Hòa, là một trong những hộ đi đầu trong chuyển đổi mô hình nuôi tôm. Trên tổng diện tích 12 ha, ông quy hoạch 5 ao nuôi công nghiệp với diện tích khoảng 5 ha. Mỗi ao cho sản lượng từ 7 - 10 tấn tôm/vụ, mang lại lợi nhuận ròng khoảng 300 - 400 triệu đồng/ao.
Bên cạnh mô hình nuôi công nghiệp, ông vẫn duy trì 7 ha nuôi tôm sú quảng canh cải tiến nhằm đa dạng hóa sản xuất và tạo nguồn thu ổn định khoảng 100 triệu đồng mỗi năm. Một mô hình khác tại phường Trường Long Hòa là của ông Nguyễn Minh Vương, người tiên phong đầu tư tự động hóa vào quy trình nuôi tôm siêu thâm canh. Với 9 ao nuôi trên diện tích 8 ha, toàn bộ quy trình từ xử lý nước đầu vào, quản lý môi trường ao nuôi đến kiểm soát dịch bệnh đều được vận hành theo hướng khép kín và tự động hóa.
Nhờ kiểm soát tốt các điều kiện sản xuất, mô hình nuôi tôm tự động hóa có năng suất cao gấp 5 - 7 lần so với phương thức nuôi truyền thống. Việc ứng dụng công nghệ vì vậy không chỉ giúp tăng sản lượng mà còn nâng khả năng kiểm soát chất lượng và giảm thiểu rủi ro trong quá trình sản xuất.
Theo ngành nông nghiệp Vĩnh Long, để mở rộng nuôi tôm công nghệ cao theo hướng hàng hóa và phục vụ xuất khẩu, hạ tầng vùng nuôi đang được xem là một trong những ưu tiên đầu tư. Tỉnh tập trung phát triển hệ thống giao thông nội đồng, nguồn điện và các công trình phục vụ sản xuất tại những vùng nuôi tôm công nghệ cao. Đây là điều kiện quan trọng để các hộ dân và doanh nghiệp có thể triển khai mô hình nuôi quy mô lớn, ứng dụng tự động hóa và kiểm soát đồng bộ quá trình sản xuất.
Vĩnh Long hiện cũng đang mời gọi đầu tư 4 dự án thủy sản quy mô lớn với tổng diện tích hơn 1.000 ha tại các khu vực ven biển trọng điểm như Đông Hải, Thạnh Hải và Long Thành. Tổng vốn đầu tư dự kiến khoảng 345 tỷ đồng, trong đó vốn doanh nghiệp huy động khoảng 300 tỷ đồng. Các dự án được định hướng xây dựng đồng bộ hệ thống điện, giao thông, kênh cấp - thoát nước biệt lập và hạ tầng số phục vụ quản lý sản xuất.
Việc đầu tư đồng bộ hạ tầng được kỳ vọng tạo ra những vùng nuôi tập trung, giúp kiểm soát tốt hơn môi trường sản xuất, dịch bệnh và chất lượng nguyên liệu. Đây cũng là tiền đề để hình thành vùng nguyên liệu ổn định cho các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu. Cùng với phát triển vùng nuôi, Vĩnh Long đang hướng tới gia tăng giá trị sản phẩm thông qua chế biến sâu. Tỉnh tích cực kêu gọi đầu tư nhà máy chế biến tôm với công suất khoảng 18.000 tấn/năm.
Nếu được triển khai, hệ thống chế biến sẽ tạo thêm năng lực chế biến sâu ngay tại địa phương, thay vì chỉ tập trung vào sản phẩm nguyên liệu. Đây là bước quan trọng để nâng giá trị gia tăng, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của các thị trường nhập khẩu lớn.
Các thị trường được định hướng gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ và châu Âu, những khu vực có yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và tiêu chuẩn sản xuất bền vững. Với việc mở rộng diện tích nuôi công nghệ cao, đầu tư hạ tầng vùng nguyên liệu và thu hút dự án chế biến sâu, Vĩnh Long đang từng bước xây dựng chuỗi giá trị tôm theo hướng khép kín từ sản xuất đến chế biến và xuất khẩu.
Trong bối cảnh thị trường thủy sản quốc tế ngày càng chú trọng chất lượng và tính ổn định của nguồn cung, việc chuyển từ nuôi tôm truyền thống sang mô hình công nghệ cao sẽ giúp Vĩnh Long nâng cao năng suất, kiểm soát tốt hơn rủi ro và tăng khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường quốc tế.
Đây cũng là cơ sở để ngành tôm địa phương chuyển từ mục tiêu tăng sản lượng sang nâng giá trị, qua đó tạo thêm động lực cho nông dân, doanh nghiệp và các nhà đầu tư cùng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị thủy sản xuất khẩu.