Vải trứng được mùa, giá bán chạm mốc 300.000 đồng/kg
Vụ vải trứng Hưng Yên năm nay ghi nhận thành công khi vừa đạt năng suất cao, vừa thiết lập mức giá kỷ lục. Nhờ chuyển giao kỹ thuật và thay đổi tư duy canh tác theo VietGAP, đặc sản khẳng định vị thế cao cấp, mở triển vọng lớn cho nông nghiệp địa phương.
Giải pháp kỹ thuật nâng tầm giá trị đặc sản
Từ gốc vải tổ tại xã Đoàn Đào có tuổi đời trên 100 năm, giống vải trứng dần được nhân giống, hình thành vùng sản xuất mang dấu ấn địa phương. Với đặc điểm kích thước lớn, vỏ đỏ đẹp, cùi dày, hạt nhỏ cùng vị ngọt thanh và hương thơm dịu, vải trứng nhanh chóng chinh phục khách hàng. Trung bình mỗi kilogam vải chỉ khoảng 16-22 quả, thậm chí có loại chỉ từ 13-16 quả. Chính sự khác biệt về cảm quan đã tạo nên vị thế riêng cho loại quả này. Để duy trì chất lượng, người dân vẫn phải nỗ lực trong quy trình chăm sóc tỉ mỉ. Cụ thể, việc tỉa cành, xử lý ra hoa, bón phân, điều tiết nước đến phòng trừ sâu bệnh đều được thực hiện theo lộ trình sinh trưởng. Đây là giống cây khó đậu quả, nhạy cảm với thời tiết, đòi hỏi kinh nghiệm lâu năm.
Ông Đoàn Văn Hiểu, Giám đốc Hợp tác xã vải trứng Hưng Yên cho biết, thời tiết năm nay diễn biến phức tạp, vì vậy hợp tác xã phải áp dụng nhiều biện pháp để cây ra hoa, kết trái đúng vụ, bảo đảm năng suất và chất lượng. Theo ông Hiểu, ngoài kinh nghiệm của bà con, các buổi tư vấn, tập huấn của ngành nông nghiệp và môi trường đã giúp xã viên nắm chắc hơn kỹ thuật chăm sóc, bảo vệ cây trong từng giai đoạn sinh trưởng. “Cây vải trứng rất khó tính, muốn cây khỏe, cho nhiều trái thì phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau. Chúng tôi mong ngành nông nghiệp tiếp tục có thêm những giải pháp sáng tạo, sát thực tế để hỗ trợ hợp tác xã nâng cao năng suất, chất lượng qua từng mùa vụ”, ông Hiểu chia sẻ.
Thành công này có sự đồng hành sát sao của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và Viện Nghiên cứu Rau quả thông qua Dự án Xây dựng mô hình ghép cải tạo, thâm canh vải chín sớm theo VietGAP tại một số tỉnh phía Bắc. Ông Nguyễn Thế Biên, Giám đốc HTX Vải trứng Đoàn Đào (xã Đoàn Đào, Hưng Yên) cho biết, trước đây người dân chủ yếu sản xuất dựa vào kinh nghiệm nên năng suất không ổn định, chất lượng quả chưa đồng đều. Những vụ đầu tiên, năng suất chỉ đạt khoảng 7 - 8 tấn/ha.
Theo ông Biên, điều quan trọng nhất mà công tác khuyến nông mang lại là thay đổi nhận thức của người dân. Trước đây, nhiều hộ sản xuất theo thói quen, sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật theo cảm tính. Tuy nhiên, thông qua các lớp tập huấn, bà con đã được hướng dẫn áp dụng nguyên tắc “4 đúng” gồm đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng thời điểm và đúng phương pháp sử dụng.
Các cán bộ kỹ thuật cũng trực tiếp theo dõi từng giai đoạn sinh trưởng của cây vải để hướng dẫn nông dân chăm sóc phù hợp, đặc biệt ở thời kỳ ra hoa và đậu quả - giai đoạn quyết định năng suất cả vụ. “Trước kia nhiều hộ phun thuốc rất nhiều lần nhưng hiệu quả không cao. Nay được hướng dẫn đúng kỹ thuật, có hộ chỉ cần phun khoảng 3 lần/vụ mà cây vẫn khỏe, tỷ lệ đậu quả cao, quả đẹp”, ông Biên cho biết.
Nhờ áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật, năng suất vải trứng tại HTX Vải trứng Đoàn Đào năm nay đạt khoảng 13-15 tấn/ha, gần gấp đôi so với giai đoạn đầu triển khai mô hình. Không chỉ tăng sản lượng, chất lượng quả cũng được cải thiện rõ rệt, mẫu mã đẹp hơn, quả đồng đều, cùi dày và vị ngọt thanh đặc trưng. “Năm nay có nơi sản lượng vải chỉ bằng khoảng 20% so với năm ngoái nhưng vải HTX chúng tôi vẫn cho năng suất rất tốt. Điều đó cho thấy khi áp dụng đúng kỹ thuật, cây có khả năng chống chịu tốt hơn với thời tiết bất lợi”, ông Biên nói.
Chiến lược thị trường và bài toán liên kết
Không chỉ giữ được năng suất, giá bán vải trứng năm nay cũng tăng mạnh. Theo ông Lê Ngọc Tráng ở thôn Đoàn Đào, thành viên HTX Vải trứng Đoàn Đào cho biết, gia đình hiện canh tác khoảng 1 mẫu vải trứng (hơn 3.500m²). “Năm nay vải mất mùa, nhiều nơi sản lượng giảm mạnh nhưng vườn vải của gia đình tôi vẫn giữ được năng suất nhờ được cán bộ Viện Nghiên cứu Rau quả và cán bộ khuyến nông hướng dẫn kỹ thuật thâm canh rất cụ thể”, ông Tráng chia sẻ.
Theo ông Tráng, sự thay đổi lớn nhất là bà con đã biết chăm sóc cây theo từng giai đoạn sinh trưởng thay vì làm theo kinh nghiệm như trước. Việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cũng được thực hiện bài bản hơn nên cây khỏe, quả đồng đều, mẫu mã đẹp. Không chỉ giữ được năng suất, giá bán vải trứng năm nay cũng tăng mạnh. Theo ông Tráng, loại vải đẹp nhất được thương lái thu mua tại vườn với giá khoảng 300.000 đồng/kg, trong khi các loại thấp hơn cũng đạt khoảng 200.000 đồng/kg. “So với năm ngoái, giá năm nay tăng hơn gấp đôi. Năm ngoái loại đẹp nhất chỉ khoảng 140.000 đồng/kg nhưng năm nay có thời điểm đạt tới 300.000 đồng/kg”, ông Tráng phấn khởi.
Hiệu quả kinh tế từ vụ vải năm nay cũng khiến nhiều người bất ngờ. Theo ông Nguyễn Thế Biên, giá vải trứng liên tục ở mức rất cao do nguồn cung khan hiếm trong khi nhu cầu thị trường lớn. Vải quả to, chất lượng cao, mẫu mã đẹp hiện được bán tại vườn với giá từ 250.000-300.000 đồng/kg. Giá bình quân cả vụ đạt khoảng 200.000 đồng/kg. Với năng suất khoảng 15 tấn/ha, mỗi ha vải có thể mang lại doanh thu khoảng 3 tỷ đồng. Sau khi trừ chi phí, người trồng thu lãi rất lớn. “Hiện nay thị trường gần như luôn trong tình trạng cầu vượt cung. Nhiều thương lái đến đặt hàng từ sớm nhưng HTX không đủ sản lượng để cung ứng”, ông Biên cho biết.
Để đi xa hơn, vải trứng Hưng Yên cần sự tham gia mạnh mẽ của doanh nghiệp. Ông Nguyễn Văn Tráng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Hưng Yên cho rằng, người nông dân và hợp tác xã có thể tạo ra sản phẩm tốt, nhưng để sản phẩm chinh phục thị trường lớn, cần có doanh nghiệp đồng hành trong khâu tiêu chuẩn hóa, bảo quản, thiết kế bao bì, xây dựng thương hiệu, phát triển kênh bán hàng và tổ chức xuất khẩu.
Để doanh nghiệp mạnh dạn tham gia, hạ tầng vùng trồng cần tiếp tục được cải thiện. Theo ông Đoàn Văn Hiểu, hợp tác xã mong Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên và chính quyền địa phương nghiên cứu, nâng cấp giao thông về các vườn vải để thuận tiện cho vận chuyển, tiêu thụ và phục vụ du khách tham quan, trải nghiệm. Đề xuất này rất thực tế, bởi với nông sản tươi, thời gian vận chuyển và điều kiện bảo quản có ý nghĩa quyết định đến chất lượng cuối cùng. Hạ tầng tốt cũng sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp logistics, đơn vị du lịch và hệ thống phân phối kết nối thuận lợi hơn với vùng sản xuất.




