Thứ trưởng Hoàng Trung: Không được biến mã số vùng trồng thành ‘giấy phép con’

Thương hiệu 15/05/2026 16:27

Việc ký kết Nghị định thư xuất khẩu bưởi và chanh tươi sang Trung Quốc, cùng sự ra đời của Nghị định 38/2026/NĐ-CP, đã mở ra cơ hội lớn cho nông sản Việt. Tuy nhiên, những nút thắt về năng lực kiểm nghiệm, tình trạng gian lận mã số vùng trồng và sự thiếu đồng bộ trong quản lý vẫn đang là rào cản cần sớm được tháo gỡ.

Những nút thắt cản trở dòng chảy nông sản chính ngạch

ong_1778829894.webp
Thứ trưởng Hoàng Trung phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Thu Hà

Dù tiềm năng sản xuất bưởi và chanh của nước ta thuộc nhóm hàng đầu thế giới với diện tích hơn 106.000 ha, thực tế xuất khẩu chính ngạch vẫn phải vượt qua nhiều yêu cầu kiểm soát khắt khe. Tại hội nghị triển khai các quy định mới, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung thẳng thắn chỉ ra thực trạng đáng báo động liên quan đến gian lận mã số vùng trồng. Đây là vấn đề ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín quốc gia; nếu không tuân thủ nghiêm ngặt các quy định tại thực địa, những nỗ lực mở cửa thị trường sẽ bị xóa nhòa.

Thứ trưởng Hoàng Trung dẫn chứng các vụ việc liên quan đến việc sử dụng chất cấm như vàng O hay tồn dư Cadimi trên sầu riêng, dù đã nhiều lần cảnh báo nhưng vi phạm vẫn tiếp diễn. Việc buông lỏng quản lý kéo theo hệ lụy lớn khi một số thị trường tạm dừng nhập khẩu, khiến giá nông sản giảm sâu. Theo ông, các vướng mắc trong thủ tục cấp phép phòng kiểm nghiệm cùng tình trạng quá tải kiểm định đang tạo áp lực rất lớn. Có những hồ sơ xin mở phòng thử nghiệm bị tồn đọng tới 6 tháng do phải qua nhiều cơ quan chức năng.

Ở góc độ doanh nghiệp, bà Ngô Tường Vy, CEO Chánh Thu Group, cho biết khó khăn lớn nhất hiện nay là tiến độ cấp mới mã số vùng trồng còn rất chậm. Bà chỉ ra thực tế tại một số địa phương sau khi phân cấp về xã, cán bộ thiếu chuyên môn nông nghiệp khiến hồ sơ bị kéo dài, ảnh hưởng trực tiếp đến thời điểm xuất khẩu. Ngoài ra, tình trạng “mã số ảo” cũng gây nhiều lo ngại khi doanh nghiệp đứng tên đăng ký nhưng người nông dân tại vùng trồng lại không biết rõ đối tác là ai.

Đồng quan điểm, ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, nhận định cần sớm thống nhất quy trình chung để tránh tình trạng mỗi địa phương làm một kiểu. Hiện nay, nhiều nơi còn lúng túng trong quản lý an toàn thực phẩm đối với lao động thời vụ, cũng như cách đánh mã số khi một vùng trồng phục vụ nhiều thị trường xuất khẩu. Bên cạnh đó, sự thiếu hụt các trung tâm kiểm nghiệm đạt chuẩn tại vùng trọng điểm như miền Tây khiến nông sản dễ bị kéo dài thời gian chờ xét nghiệm, làm tăng nguy cơ hư hỏng.

Bà Nguyễn Thị Giang, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Cần Thơ, chia sẻ áp lực lớn về nhân lực khi biên chế mỏng nhưng khối lượng hồ sơ phải xử lý rất lớn. Hệ thống dữ liệu mã số vùng trồng hiện cũng chưa đồng nhất giữa các cấp, gây khó khăn trong quá trình nhập liệu và quản lý. Những rào cản kỹ thuật và hành chính này nếu không được xử lý dứt điểm sẽ khiến mục tiêu xuất khẩu rau quả 10 tỷ USD vào năm 2026 đối mặt nhiều rủi ro, đồng thời dễ phát sinh tình trạng làm giả mã số.

Xây dựng chuỗi liên kết thực chất và chuẩn hóa quản trị

buoi1_1778830350.jpg
Rửa quả bưởi tại nhà máy Kim Thanh (Vĩnh Long) của Vina T&T Group. Ảnh: Cẩm Trúc

Để giải quyết triệt để các tồn tại, Thứ trưởng Hoàng Trung khẳng định mã số vùng trồng theo Nghị định 38/2026/NĐ-CP là không có thời hạn và tuyệt đối không được biến thành “giấy phép con” gây tốn kém. Ông chỉ đạo các tỉnh giao quyền mạnh hơn cho cơ quan chuyên môn nhằm đẩy nhanh tiến độ cấp mã, đảm bảo quyền lợi cho người dân. Đồng thời, Thứ trưởng yêu cầu các địa phương hoàn thiện rà soát và gửi danh sách cấp mã số cho bưởi, chanh trước ngày 30/5/2026 để kịp thời gửi công hàm sang phía Trung Quốc phê duyệt.

Theo chỉ đạo của Thứ trưởng Hoàng Trung, công tác quản lý cần đi vào thực chất hơn thông qua tăng cường thanh tra và xử lý nghiêm các hành vi gian lận. Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ phối hợp cùng 34 địa phương để chấn chỉnh toàn diện công tác kiểm nghiệm và quản lý cơ sở đóng gói. Ông nhấn mạnh cơ quan chuyên môn mới là lực lượng đủ khả năng cấp mã số nhanh và chuẩn xác nhất, do đó cần ưu tiên ủy quyền cho các đơn vị này thay vì để hồ sơ luân chuyển qua nhiều tầng nấc trung gian gây khó khăn cho doanh nghiệp.

Về giải pháp quản trị, ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch HĐQT Vina T&T Group, kiến nghị thống nhất cơ chế “một cấp, một quy trình, một thủ tục” trên phạm vi toàn quốc. Ông cho rằng mã số vùng trồng nên được xem như “hộ chiếu” của nông dân để chứng minh năng lực sản xuất. Các địa phương cần chủ động cấp mã cho tổ hợp tác ngay từ đầu thay vì chờ hình thành liên kết với doanh nghiệp. Khi vùng nguyên liệu đạt chuẩn và minh bạch thông tin, doanh nghiệp sẽ tự tìm đến thu mua, từ đó hình thành chuỗi giá trị bền vững.

Bà Ngô Tường Vy cũng đề xuất các tỉnh cần tổ chức tập huấn lại cho cán bộ cấp xã để thống nhất lộ trình và nâng cao tính chuyên nghiệp trong thực thi. Đối với yêu cầu bao trái bắt buộc của Nghị định thư, bà kiến nghị cần có hướng dẫn kỹ thuật phù hợp cho từng loại bưởi, như bao bì giữ màu vàng cho bưởi Năm Roi hay màu xanh cho bưởi Da xanh. Việc rà soát tính thực chất trong liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân là yêu cầu bắt buộc nhằm tạo niềm tin, tránh tình trạng liên kết lỏng lẻo hoặc lợi dụng mã số để trục lợi.

Ông Võ Quan Huy, Giám đốc Công ty Huy Long An, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khơi dậy tinh thần gắn kết thực chất giữa các bên. Theo ông, khi doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân cùng chia sẻ lợi ích và trách nhiệm, những vướng mắc về kỹ thuật cũng như ý thức tuân thủ sẽ dần được tháo gỡ. Đồng thời, việc số hóa quy trình quản lý thông qua hệ thống cơ sở dữ liệu số toàn quốc của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật được xem là chìa khóa minh bạch hóa thông tin, giúp nông sản Việt Nam đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường quốc tế.

Lệ Mai
Tin đáng đọc