Thị trường carbon Việt Nam tăng tốc mở đường biến giảm phát thải thành giá trị kinh tế

Diễn biến - Dự báo 15/08/2026 18:32

Thị trường carbon Việt Nam đang bước vào giai đoạn quan trọng khi nguồn cung tín chỉ từng bước hình thành, nhu cầu giao dịch gia tăng và các cơ chế kết nối cung - cầu bắt đầu được triển khai, mở ra cơ hội biến hoạt động giảm phát thải thành một nguồn giá trị kinh tế mới.

Thị trường carbon Việt Nam đang chuyển dần từ giai đoạn xây dựng thể chế sang triển khai thực tế. Trong quá trình này, việc hình thành quan hệ cung - cầu, chuẩn hóa tín chỉ và tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia giao dịch được xem là những yếu tố quyết định khả năng vận hành hiệu quả của thị trường.

Ngày 14/8, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Viện Tư vấn và Phát triển, Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), với sự hỗ trợ của Cục Kinh tế Liên bang Thụy Sĩ, tổ chức Diễn đàn Carbon Việt Nam 2026 với chủ đề “Từ chính sách đến hành động”.

Diễn đàn quy tụ khoảng 400 đại biểu từ các cơ quan Trung ương, địa phương, hiệp hội, doanh nghiệp, tổ chức tài chính, ngân hàng, quỹ đầu tư và tổ chức quốc tế. Đáng chú ý, phiên kết nối doanh nghiệp tập trung đưa các đơn vị cung cấp tín chỉ tiếp cận trực tiếp với doanh nghiệp có nhu cầu mua, trao đổi và bù trừ phát thải.

2114-anh-chup-man-hinh-2026-08-12-luc-091050-nongnghiep-092101_1786727522.webp
Thị trường carbon Việt Nam tăng tốc mở đường biến giảm phát thải thành giá trị kinh tế

Hai biên bản ghi nhớ về kết nối cung - cầu hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon cũng được ký kết giữa Viện Tư vấn Phát triển với Công ty Cổ phần Quốc tế Ngọc Viễn Đông; Công ty Cổ phần Khoa học & Môi trường Giant Barb với Công ty Rockpine. Đây được xem là bước chuyển đáng chú ý khi thị trường carbon bắt đầu hình thành những quan hệ giao dịch cụ thể, thay vì chỉ dừng ở việc xây dựng chính sách, tiêu chuẩn và nâng cao nhận thức.

Theo ông Nguyễn Tuấn Quang, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu, Việt Nam hiện có hàng trăm dự án theo Cơ chế phát triển sạch (CDM) đã được cấp tín chỉ. Một số dự án đang chuyển đổi sang cơ chế mới theo Thỏa thuận Paris. Bên cạnh đó, Việt Nam có hơn 10 dự án theo Cơ chế tín chỉ chung (JCM) và nhiều dự án được triển khai theo các tiêu chuẩn carbon khác.

Cùng với nguồn cung tín chỉ, hệ thống tổ chức thẩm định cũng đang được hình thành. Hiện có khoảng 30 tổ chức đáp ứng yêu cầu về chứng nhận, xác nhận giá trị sử dụng theo quy định. Đây là mắt xích quan trọng bởi lượng giảm phát thải phải được đo lường, thẩm định và chứng nhận trước khi có thể trở thành tín chỉ đủ điều kiện giao dịch trên thị trường.

Ở phía cầu, mức độ quan tâm của doanh nghiệp đối với thị trường carbon đang tăng lên. Theo bà Phạm Liên Anh, Trưởng Chương trình Tư vấn Cải cách và Nghiên cứu Kinh tế Việt Nam, Lào, Campuchia của IFC, nhiều doanh nghiệp đã triển khai hoặc chuẩn bị xây dựng các dự án carbon gắn với giải pháp giảm phát thải. IFC và Cục Biến đổi khí hậu cũng đang chuẩn bị sổ tay hướng dẫn nhằm giúp doanh nghiệp tiếp cận thực tế hơn với quá trình xây dựng dự án carbon.

Tuy nhiên, sự gia tăng quan tâm chưa đồng nghĩa thị trường có thể phát triển nhanh nếu thiếu các điều kiện nền tảng. Theo bà Liên Anh, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện tiêu chuẩn carbon trong nước, xây dựng quy trình chứng nhận thuận lợi và nâng cao hiểu biết của doanh nghiệp về cách thức tham gia. Bởi một thị trường carbon chỉ có thể vận hành thực chất khi đồng thời có nguồn cung tín chỉ đủ tin cậy và nhu cầu đủ lớn.

Không gian phát triển của thị trường carbon Việt Nam không chỉ đến từ nhu cầu trong nước mà còn gắn với các yêu cầu thương mại quốc tế ngày càng cao. Theo đại diện IFC, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu yêu cầu các nhà nhập khẩu cung cấp thông tin, chứng nhận liên quan đến lượng phát thải carbon trong hàng hóa nhập khẩu. Chi phí tuân thủ thông qua chứng nhận hiện được cập nhật ở mức khoảng 75 euro/tấn CO2 tương đương.

Đáng chú ý, dự thảo của EU cho phép 10% nghĩa vụ tuân thủ CBAM được bù trừ bằng tín chỉ carbon. Nếu được thông qua, quy định này có thể tạo thêm nguồn cầu đối với tín chỉ carbon trên thị trường quốc tế và mở ra cơ hội cho những quốc gia có tiềm năng cung cấp tín chỉ như Việt Nam.

Ở trong nước, việc công nhận các tín chỉ carbon được phát triển theo những tiêu chuẩn độc lập như Verra, Gold Standard để giao dịch trên thị trường cũng đang được xem xét. Các tiêu chuẩn bổ sung sẽ tiếp tục được Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với các bộ, ngành nghiên cứu, đánh giá theo yêu cầu pháp lý.

Theo ông Nguyễn Tuấn Anh, Phó Tổng Giám đốc Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), thị trường carbon trong nước hiện không quy định biên độ dao động giá. Đối với tín chỉ được phép giao dịch, sau khi đăng ký trên Hệ thống đăng ký quốc gia và chuyển sang hệ thống lưu ký, giá mua bán được xác lập trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên. Điều này cho phép bên mua và bên bán chủ động xác định giá dựa trên chất lượng, nguồn gốc và đặc tính của từng loại tín chỉ, thay vì áp dụng mức giá trần, giá sàn cố định.

Theo Tiến sỹ Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Tư vấn và Phát triển, định giá carbon ở mức đủ lớn có thể tạo sức ép kinh tế để doanh nghiệp thay đổi công nghệ và đầu tư vào các giải pháp giảm phát thải. Khi chi phí phát thải trở thành một khoản chi đáng kể, doanh nghiệp sẽ phải cân nhắc giữa việc tiếp tục trả chi phí cho phát thải và đầu tư công nghệ, cải tiến quy trình nhằm giảm lượng khí nhà kính. Một dư địa khác đang được nhận diện là khai thác giá trị từ chính những hoạt động giảm phát thải mà doanh nghiệp đã thực hiện.

Theo bà Phạm Liên Anh, khảo sát phối hợp giữa IFC và Cục Biến đổi khí hậu năm 2025 cho thấy nhiều doanh nghiệp trong các ngành có tiềm năng tạo tín chỉ đã triển khai giải pháp tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải nhưng chưa nhận diện được khả năng phát triển những kết quả này thành dự án tín chỉ carbon.

Để tham gia thị trường, doanh nghiệp trước hết cần xác định lượng phát thải, nguồn phát thải chính và khả năng đo lường, giám sát, báo cáo, thẩm định (MRV). Đây vẫn là điểm yếu khi năng lực MRV của nhiều doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế, trong khi việc số hóa dữ liệu mới ở giai đoạn đầu.

Sau bước đo lường, doanh nghiệp cần xác định giải pháp giảm phát thải có khả năng phát triển thành tín chỉ, đồng thời lựa chọn thị trường mục tiêu, từ thị trường tự nguyện, thị trường tuân thủ trong nước đến khả năng chuyển giao quốc tế theo Điều 6.2 của Thỏa thuận Paris.

Với nguồn cung tín chỉ đang dần được chuẩn hóa, nhu cầu doanh nghiệp ngày càng rõ nét và các cơ chế giao dịch từng bước hoàn thiện, thị trường carbon Việt Nam đang đứng trước cơ hội chuyển sang giai đoạn phát triển thực chất hơn. Khi kết nối được cung - cầu và bảo đảm chất lượng tín chỉ, giá trị kinh tế từ giảm phát thải có thể trở thành động lực mới thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ xanh và quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp.

Minh Ngọc