Chuyển đổi số mở đường cho nông nghiệp hiện đại hóa

Diễn biến - Dự báo 13/08/2026 15:22

Từ số hóa vùng trồng, truy xuất nguồn gốc đến ứng dụng drone, tưới tiêu thông minh và quản lý sản xuất trên nền tảng số, Đồng Tháp đang từng bước đưa khoa học công nghệ vào đồng ruộng, nâng năng suất, chất lượng và giá trị nông sản, đồng thời hình thành lớp nông dân chuyên nghiệp, thích ứng với yêu cầu mới của thị trường.

Phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, ứng dụng khoa học công nghệ và quản lý trên môi trường số đang trở thành một trong những định hướng quan trọng của ngành nông nghiệp Đồng Tháp. Quá trình này được triển khai gắn với Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số quốc gia.

Theo ông Lê Hà Luân, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp, chuyển đổi số hiện đã được áp dụng ngày càng rộng trong nhiều lĩnh vực của sản xuất nông nghiệp. Tỉnh tập trung xây dựng nền tảng dữ liệu số nông nghiệp, ứng dụng công nghệ cao như tưới tiêu thông minh, drone, cơ giới hóa và tự động hóa các khâu sản xuất, chăn nuôi.

nong-nghiep-4.0_1786597119.jpg
Chuyển đổi số mở đường cho nông nghiệp hiện đại hóa

Việc đưa công nghệ vào sản xuất giúp giảm chi phí, nâng năng suất, minh bạch hóa thông tin và từng bước nâng giá trị trong chuỗi sản phẩm nông nghiệp. Đặc biệt, số hóa vùng trồng, vùng khai thác phục vụ truy xuất nguồn gốc đang được đẩy mạnh đối với các ngành hàng chủ lực như cây ăn trái và thủy sản.

Đến tháng 6/2026, toàn tỉnh có 314 hợp tác xã nông nghiệp và hơn 120 hội quán. Trong tổng số hơn 95.000 thành viên, người lao động của các hợp tác xã và hội quán, có hơn 79.000 người, tương đương khoảng 85%, đã có kiến thức cơ bản về công nghệ số, kỹ năng số và sử dụng thiết bị thông minh phục vụ sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng suất lao động.

Để mở rộng khả năng tiếp cận công nghệ, Sở Nông nghiệp và Môi trường Đồng Tháp phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức đào tạo, hướng dẫn gần 300 hợp tác xã, chiếm hơn 70% tổng số hợp tác xã trên địa bàn, ứng dụng công nghệ thông tin vào sản xuất.

Nội dung tập trung vào truy xuất nguồn gốc, xây dựng mã số vùng trồng, khai thác thông tin cung - cầu, cập nhật thông tin sản xuất nông nghiệp và môi trường thông qua Internet. Qua đó, công nghệ số không chỉ được đưa vào khâu quản lý mà từng bước trở thành công cụ để nông dân tiếp cận thị trường và tổ chức sản xuất hiệu quả hơn.

Đến nay, Đồng Tháp có 229 hợp tác xã, hội quán được cấp mã số vùng trồng phục vụ thị trường nội địa và xuất khẩu. Trong đó, 208 hợp tác xã có 887 vùng trồng với diện tích gần 173.000 ha; 21 hội quán có 46 vùng trồng với diện tích hơn 1.300 ha.

Ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết lập và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đạt khoảng 60%. Hệ thống này giúp theo dõi, kiểm soát sinh vật gây hại, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và quản lý sản xuất theo hướng bền vững, qua đó đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế.

Trong lĩnh vực cây ăn trái, Đồng Tháp hiện có khoảng 134.000 ha trồng nhiều loại cây chủ lực như sầu riêng, thanh long, bưởi da xanh, xoài, mít. Đây là một trong những lợi thế lớn để tỉnh phát triển ngành hàng trái cây theo hướng hàng hóa và xuất khẩu.

Tuy nhiên, quá trình số hóa sản xuất vẫn còn khoảng cách khá lớn giữa các vùng và các nhóm nông dân. Hiện mới khoảng 60% diện tích cây ăn trái được cấp mã số vùng trồng, trong khi một bộ phận diện tích đang từng bước tiếp cận các tiêu chuẩn như VietGAP, GlobalGAP và các giải pháp công nghệ để nâng sức cạnh tranh.

Thực tế tại các vùng sản xuất cho thấy, chuyển đổi số không phải là quá trình có thể thực hiện trong thời gian ngắn. Nhiều nông dân đã nhận thức được lợi ích của công nghệ nhưng vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận thiết bị, kỹ năng số và phương thức quản lý mới.

Ông Nguyễn Văn Phùng, ở xã Tân Thuận Bình, đang sản xuất 2.000 m2 bưởi da xanh theo hướng hữu cơ. Hiện phần lớn công việc chăm sóc vườn vẫn được thực hiện thủ công. Các thời điểm bón phân, phun thuốc vi sinh, tạo ẩm và tưới nước chủ yếu được ông ghi nhớ thay vì sử dụng sổ ghi chép hoặc nhật ký điện tử.

Để duy trì độ ẩm cho vườn trong mùa khô, ông Phùng thường tận dụng lục bình để che chắn gốc cây, hạn chế thoát nước. Hệ thống tưới hiện tại cũng mới dừng ở mức sử dụng máy bơm, chưa được tự động hóa do nhu cầu về độ ẩm của phần rễ và gốc cây đòi hỏi phương thức tưới phù hợp hơn.

Tương tự, anh Nguyễn Hồng Phước ở xã Tân Thuận Bình sản xuất 2.000 m2 dừa xen chanh hoa tím. Vườn dừa đã cho trái khoảng 3 năm và mang lại nguồn thu ổn định, nhất là vào mùa khô khi giá dừa tăng. Trong mùa mưa, anh phải khai thác cả dừa và chanh để bảo đảm thu nhập do nhu cầu thị trường và giá bán thường giảm.

Anh Phước cho biết đã tiếp nhận nhiều thông tin về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong sản xuất nông nghiệp nhưng vẫn còn bỡ ngỡ và chưa có điều kiện tham gia đầy đủ các lớp tập huấn. Trong khi đó, nhiều vườn cây xung quanh đã bắt đầu sử dụng công nghệ để quản lý tưới thông qua điện thoại, mang lại sự thuận tiện đáng kể. Điều này khiến anh mong muốn được đào tạo, hướng dẫn để có thể từng bước đưa công nghệ vào vườn cây của gia đình.

Theo ông Võ Văn Mười, Chủ tịch Hội Nông dân xã Tân Thuận Bình, thời gian qua Hội Nông dân xã đã tổ chức nhiều đợt hướng dẫn người dân tiếp cận khoa học công nghệ, cập nhật thông tin thị trường nông sản, phương thức sản xuất hiện đại, sàn thương mại điện tử và các giải pháp công nghệ phục vụ quản lý sản xuất. Tuy nhiên, việc tiếp cận thông tin vẫn chưa đồng đều. Một số nông dân do điều kiện gia đình hoặc công việc sản xuất không thể tham gia các lớp tập huấn nên chưa cập nhật kịp thời những kiến thức mới.

Bên cạnh chuyển giao kiến thức, Hội Nông dân xã cũng hỗ trợ kết nối người sản xuất với Ngân hàng Chính sách xã hội Chợ Gạo để tiếp cận nguồn vốn tín chấp. Đến nay, hơn 1.000 hộ đã được tiếp cận nguồn vốn với tổng số khoảng 54 tỷ đồng, tạo thêm điều kiện để người dân đầu tư cho sản xuất.

Những thực tế này cho thấy chuyển đổi số trong nông nghiệp không chỉ là câu chuyện đưa thiết bị thông minh hay phần mềm vào đồng ruộng. Quan trọng hơn là thay đổi phương thức sản xuất, cách quản lý và tư duy của người nông dân.

Khi người sản xuất biết ghi chép nhật ký điện tử, quản lý vùng trồng bằng dữ liệu, theo dõi thời tiết, kiểm soát tưới tiêu từ xa, cập nhật giá cả và nhu cầu thị trường, công nghệ sẽ trở thành công cụ trực tiếp giúp giảm chi phí và nâng hiệu quả sản xuất.

Đối với Đồng Tháp, số hóa vùng trồng và truy xuất nguồn gốc còn có ý nghĩa đặc biệt trong quá trình mở rộng thị trường xuất khẩu. Khi các thị trường ngày càng yêu cầu cao về chất lượng, dư lượng, an toàn thực phẩm và minh bạch nguồn gốc, dữ liệu sản xuất sẽ trở thành một phần quan trọng của giá trị nông sản.

Cùng với đó, việc ứng dụng công nghệ cần được gắn với hợp tác xã và doanh nghiệp để tạo ra quy mô đủ lớn. Nếu từng hộ nông dân tự triển khai một cách riêng lẻ, chi phí đầu tư và khả năng khai thác công nghệ sẽ bị hạn chế. Ngược lại, khi hợp tác xã tổ chức vùng sản xuất, doanh nghiệp kết nối đầu ra và cơ quan chuyên môn hỗ trợ dữ liệu, công nghệ có thể phát huy hiệu quả trên quy mô lớn hơn.

Từ những bước đi ban đầu, Đồng Tháp đang từng bước hình thành nền tảng để chuyển từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp dựa trên dữ liệu và công nghệ. Quá trình này không chỉ hướng tới năng suất cao hơn mà còn nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng ổn định, nguồn gốc minh bạch và khả năng cạnh tranh tốt hơn trên thị trường.

Dù vẫn còn không ít nông dân chưa tiếp cận đầy đủ với công nghệ, nhu cầu học hỏi và thích ứng đang ngày càng rõ nét. Đây là cơ sở quan trọng để khoa học công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực thúc đẩy Đồng Tháp xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, đồng thời hình thành những người nông dân chuyên nghiệp, văn minh và có khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị nông sản trong nước và quốc tế.

Diệp Bắc