Nữ sĩ nổi tiếng tiên phong cho thơ Việt Nam hiện đại: Có chồng là nhà phê bình văn học xuất sắc, các con là Giáo sư, Phó Giáo sư, chuyên gia hàng đầu
Nhiều người con của ông bà sau này trở thành những trí thức, nhà khoa học và văn nghệ sĩ nổi tiếng.
Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, khi nhắc tới những gương mặt nữ tiêu biểu của phong trào Thơ mới, công chúng thường nhớ đến Anh Thơ, Vân Đài hay Mộng Tuyết. Tuy nhiên, bên cạnh những tên tuổi ấy còn có Hằng Phương - một nữ sĩ sở hữu giọng thơ đằm thắm, giàu tình quê và tình thân, đồng thời là người phụ nữ trí thức có nhiều đóng góp trên cả lĩnh vực văn chương, hoạt động xã hội và cách mạng.
Một trong những gương mặt nữ xuất hiện sớm nhất của nền thơ ca Việt Nam hiện đại
Hằng Phương tên thật là Lê Hằng Phương, sinh năm 1908 tại vùng Gò Nổi, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam cũ (nay thuộc TP. Đà Nẵng) - mảnh đất nổi tiếng với truyền thống hiếu học và nhiều nhân vật văn hóa lớn.
Bà là con gái học giả Lê Dư - người được biết đến rộng rãi với bút hiệu Sở Cuồng. Đây là một trong những nhà nghiên cứu Hán Nôm, lịch sử và văn học có uy tín trong đời sống học thuật đầu thế kỷ XX. Lê Dư từng tham gia phong trào Đông Du cùng Phan Bội Châu, dành nhiều tâm huyết cho việc khảo cứu văn hóa dân tộc.
Bên ngoại của Hằng Phương cũng là một dòng họ danh giá. Mẹ bà là Phan Thị Dệm, con gái cụ Phó bảng Phan Trần - một sĩ phu yêu nước tham gia phong trào Cần Vương và Duy Tân, đồng thời là con rể Tổng đốc Hoàng Diệu. Nhà văn hóa Phan Khôi là bác ruột bên ngoại của bà.
Sinh ra trong môi trường gia đình giàu truyền thống học vấn, từ nhỏ Hằng Phương đã được tiếp cận cả nền học vấn Nho học lẫn văn hóa hiện đại. Thuở nhỏ bà học tiểu học ở quê, đồng thời được ông ngoại dạy chữ Hán. Khi 14 tuổi, theo cha ra Hà Nội sinh sống, bà tiếp tục học chữ Hán với cụ Phan Đức Kế - một danh Nho nổi tiếng đương thời.
Những năm tháng ấy đã bồi đắp cho Hằng Phương vốn văn hóa phong phú cùng tình yêu sâu sắc đối với văn chương dân tộc. Ngay từ khi còn rất nhỏ, bà đã thuộc nhiều tác phẩm kinh điển như “Truyện Kiều”, “Chinh phụ ngâm”, “Cung oán ngâm khúc” và các bài thơ yêu nước bằng chữ Nôm.
Nhà thơ Hằng Phương làm thơ từ những năm 20 tuổi, bà có nhiều bài thơ đăng trên các báo và tạp chí bán chạy lúc bấy giờ. Tác phẩm đầu tiên được biết đến của bà là bài thơ “Nhớ con nhỏ Bội Trinh”, đăng trên báo Phụ nữ tân văn năm 1929. Từ đây, cái tên Hằng Phương dần trở nên quen thuộc với độc giả đương thời. Thơ của bà liên tục xuất hiện trên nhiều tờ báo có ảnh hưởng lớn như Đàn bà, Ngày nay, Tri Tân, Trung Bắc tân văn, Hà Nội tân văn, Trung lập, Phụ nữ tân văn…
Sự hiện diện đều đặn của Hằng Phương trên các diễn đàn văn chương lớn cho thấy vị trí đáng kể của bà trong đời sống thi ca giai đoạn trước năm 1945. Trong bối cảnh văn học vẫn chủ yếu là sân chơi của nam giới, việc một cây bút nữ được công chúng đón nhận và được giới phê bình chú ý là điều không dễ dàng.
Năm 1943 đánh dấu một cột mốc quan trọng trong sự nghiệp của Hằng Phương khi bà cùng Vân Đài, Mộng Tuyết và Anh Thơ xuất bản tập thơ chung “Hương xuân”. Cuốn sách do Nhà xuất bản Nguyễn Du ấn hành tại Hà Nội, trên bìa ghi rõ: “Những vần thơ hay của mấy nữ thi sĩ Vân Đài - Hằng Phương - Mộng Tuyết - Anh Thơ”. Đây được nhiều nhà nghiên cứu xem là tuyển tập thơ nữ bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam.
Sự ra đời của “Hương xuân” có ý nghĩa vượt ra ngoài khuôn khổ một ấn phẩm văn học đơn thuần. Trong bối cảnh phong trào Thơ mới vừa đi qua thời kỳ rực rỡ nhất với những tên tuổi như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư hay Hàn Mặc Tử, tập thơ đã góp phần khẳng định sự hiện diện của tiếng nói nữ giới trên thi đàn.
Các sáng tác của Hằng Phương trong tập thơ này như “Tết xưa”, “Trăng lên”, “Trên đò suối”, “Tư cố hương”, “Bình minh”, “Tịch mịch”, “Nhớ mẹ”, “Chiều hè đứng bên sông”, “Phật tụng”, “Thu nhớ quê nhà” đều cho thấy một thế giới nghệ thuật đậm chất nữ tính, giàu cảm xúc và thấm đẫm nỗi nhớ quê hương.
Vị trí của Hằng Phương trong phong trào Thơ mới được khẳng định rõ nét hơn khi bà được Hoài Thanh - Hoài Chân đưa vào công trình kinh điển “Thi nhân Việt Nam”. Tác phẩm được tuyển chọn là bài thơ “Lòng quê”, sáng tác với lời đề tặng “V.N.P” - tức Vũ Ngọc Phan. Đây vừa là bài thơ tình, vừa là tiếng lòng của người phụ nữ xa quê luôn hướng về cội nguồn.
Khi giới thiệu Hằng Phương, Hoài Thanh viết: “Thơ Hằng Phương cùng một giọng êm dịu, ngọt ngào như thơ Vân Đài. Nhưng ít dấu tích thơ Đường và thành thực hơn”.
So với nhiều tên tuổi cùng thời, Hằng Phương không để lại số lượng tác phẩm quá đồ sộ. Ngoài tập thơ chung “Hương xuân” xuất bản năm 1943, bà còn có các tập thơ “Một mùa hoa” (1960), “Mùa gặt” (1961), “Chim én bay xa” (1962), “Hương đất nước” (1974) cùng nhiều bài thơ, bút ký, công trình nghiên cứu văn hóa dân gian và khảo cứu văn học.
Từ thi đàn đến mặt trận xã hội và cách mạng
Bên cạnh vai trò một nhà thơ, Hằng Phương còn là một trí thức tích cực tham gia các hoạt động xã hội, góp mặt trong nhiều phong trào yêu nước trước và sau Cách mạng Tháng Tám.
Những năm 1936-1939, khi phong trào dân chủ phát triển mạnh mẽ ở Đông Dương, bà tham gia Mặt trận Dân chủ Đông Dương và Hội Truyền bá Quốc ngữ. Đây là giai đoạn nhiều trí thức tiến bộ lựa chọn dấn thân vào các hoạt động xã hội nhằm nâng cao dân trí, khơi dậy ý thức dân tộc và đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ.
Năm 1937, Đảng Cộng sản Đông Dương ban hành Nghị quyết về công tác phụ nữ. Trong bối cảnh đó, Hằng Phương cùng người em họ Lê Thị Xuyến và nhiều phụ nữ tiến bộ khác tham gia thành lập Hội Phụ nữ Dân chủ, tiền thân của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam ngày nay.
Từ một người phụ nữ xuất thân trong gia đình nho học, quen với đời sống gia đình và văn chương, Hằng Phương từng bước hòa mình vào các hoạt động xã hội rộng lớn hơn. Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 nổ ra, bà tham gia phong trào khởi nghĩa giành chính quyền. Sau khi đất nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Hằng Phương cùng gia đình tản cư về Thanh Hóa.
Trong hoàn cảnh chiến tranh gian khó, bà vẫn tích cực tham gia các hoạt động của Hội Phụ nữ cứu quốc, lao động sản xuất và vận động quần chúng. Những năm ấy cũng là thời gian gia đình bà trải qua nhiều thiếu thốn, song tinh thần yêu nước và ý chí vượt khó vẫn được gìn giữ trong từng thành viên.
Đầu năm 1946, trong những ngày đất nước vừa giành được độc lập, bộn bề khó khăn đang đặt lên vai chính quyền non trẻ, Hằng Phương có dịp mua được những quả cam ngon nổi tiếng của Thanh Hóa. Nghĩ tới Chủ tịch Hồ Chí Minh đang ngày đêm lo việc nước, bà chọn những quả cam đẹp nhất để gửi biếu Người. Là một nhà thơ, bà còn viết kèm vài câu thơ bày tỏ tình cảm kính trọng rồi gửi tới Bắc Bộ phủ.
Những dòng thơ mộc mạc ấy chứa đựng tình cảm chân thành của một người dân dành cho vị lãnh tụ vừa dẫn dắt dân tộc giành độc lập: “Cam ngon Thanh Hóa vốn dòng/Kính dâng Chủ tịch tỏ lòng mến yêu...”. Khi nhận được món quà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xúc động làm thơ đáp lại.
Ít lâu sau, trên báo Tiếng gọi phụ nữ, cơ quan tuyên truyền của Hội Phụ nữ cứu quốc, xuất hiện mục giới thiệu bài thơ cảm ơn của Hồ Chủ tịch gửi nữ sĩ Hằng Phương. Cuộc trao đổi bằng thơ giữa một nhà thơ và vị lãnh tụ cách mạng nhanh chóng được nhiều người biết đến. Trải qua thời gian, câu chuyện ấy trở thành một trong những giai thoại đẹp của văn học Việt Nam hiện đại, thể hiện sự gần gũi giữa lãnh tụ với nhân dân, đồng thời phản ánh tấm lòng yêu nước chân thành của nữ sĩ Hằng Phương.
Sau hòa bình lập lại năm 1954, Hằng Phương trở về công tác tại Báo Văn nghệ. Khi Hội Nhà văn Việt Nam thành lập năm 1957, bà trở thành một trong những hội viên đầu tiên của tổ chức này.
Điều đáng chú ý là tinh thần dấn thân ấy không hề suy giảm theo tuổi tác. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, năm 1968, khi đã bước sang tuổi 60, bà vẫn xung phong vào các địa bàn tuyến lửa ở Quảng Bình cũ, đến với các đội nữ thanh niên xung phong tại Nghệ An và tìm hiểu đời sống chiến đấu của đồng bào dân tộc Vân Kiều.
Chuyện tình kéo dài hơn nửa thế kỷ
Một trong những dấu ấn đặc biệt của cuộc đời Hằng Phương là cuộc hôn nhân với Vũ Ngọc Phan - nhà phê bình xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại.
Năm 1922, theo gia đình ra Hà Nội sinh sống, cô gái xứ Quảng nhanh chóng gây ấn tượng bởi vẻ thanh tú, nền nếp gia giáo cùng vốn học vấn được vun đắp từ môi trường gia đình khoa bảng. Trong những năm tháng tuổi trẻ ấy, Hằng Phương trở thành hình bóng khiến không ít chàng trai Hà thành mến mộ. Nhưng người dành cho bà tình cảm sâu đậm nhất lại là chàng học sinh Vũ Ngọc Phan, người sau này trở thành một trong những nhà nghiên cứu, phê bình văn học hàng đầu của Việt Nam.
Đầu năm 1924, Vũ Ngọc Phan đến ở trọ tại nhà người cô trên phố Phạm Phú Thứ, gần khu vực chợ Hàng Da. Chính tại đây, ông có dịp gặp cô hàng xóm Hằng Phương. Theo nhiều tư liệu ghi lại, ngay từ lần đầu tiên bắt gặp dáng vẻ dịu dàng cùng phong thái nền nã của cô gái đất Quảng, chàng thanh niên họ Vũ đã đem lòng cảm mến.
Bản thân Vũ Ngọc Phan khi ấy cũng là một thanh niên có học thức, nho nhã và được nhiều gia đình khá giả để mắt. Thậm chí có người sẵn sàng chu cấp để ông sang Pháp du học nếu nhận lời kết hôn. Tuy nhiên, mọi lời mai mối đều bị từ chối. Trong trái tim của chàng thư sinh trẻ tuổi lúc ấy chỉ có hình bóng Hằng Phương.
Nhận thấy con trai ngày càng trầm tư, không mặn mà với chuyện hôn nhân, mẹ của Vũ Ngọc Phan nhiều lần lo lắng. Đến khi được con trai thổ lộ chuyện tình cảm, gia đình mới chính thức mang trầu cau sang hỏi cưới.
Về phía Hằng Phương, bà cũng là đối tượng theo đuổi của nhiều thanh niên xuất thân danh giá. Trong số đó có những công tử con quan, những thanh niên từng du học Pháp hoặc theo học các trường danh tiếng đương thời. Xét về điều kiện kinh tế và địa vị xã hội, không ít người được đánh giá vượt trội hơn Vũ Ngọc Phan.
Chính vì thế, khi biết Hằng Phương lựa chọn chàng thư sinh họ Vũ, một số người không khỏi thất vọng. Thậm chí xuất hiện cả những lá thư nặc danh nhằm bôi nhọ Vũ Ngọc Phan với đủ lời đồn đoán về hoàn cảnh gia đình và sức khỏe. Những thông tin ấy từng khiến gia đình học giả Lê Dư lo lắng cho tương lai của con gái.
Tuy nhiên, Hằng Phương vẫn giữ nguyên quyết định của mình. Bỏ ngoài tai mọi lời dị nghị, bà kiên định bảo vệ tình yêu đã lựa chọn. Ngày 25/12/1925, hai người chính thức nên duyên vợ chồng, mở đầu cho cuộc hôn nhân kéo dài gần 60 năm.
Điều đáng quý là tình cảm giữa họ không phai nhạt theo thời gian. Giữa bộn bề cuộc sống, những năm tháng chiến tranh, khó khăn kinh tế và trách nhiệm nuôi dạy các con, Vũ Ngọc Phan vẫn luôn dành cho vợ sự trân trọng đặc biệt.
Năm 1942, khi dịch thiên tình sử nổi tiếng của Pháp “Chàng T'rixtăng và nàng Ydơ”, ông đã Việt hóa tên 2 nhân vật thành Tiểu Nhiên và Mị Cơ để phù hợp với độc giả trong nước. Trên trang đề tặng của tác phẩm, Vũ Ngọc Phan viết dòng chữ đầy tình cảm: “Tặng Hằng Phương, Mị Cơ của lòng tôi”.
Cuộc sống gia đình của Hằng Phương không hề dễ dàng. Ông bà có 10 người con, trong đó 3 người mất khi còn nhỏ. Trong bối cảnh đất nước trải qua chiến tranh, kinh tế nhiều giai đoạn khó khăn, phần lớn trách nhiệm chăm lo gia đình đặt lên vai người phụ nữ.
Nhiều tư liệu ghi lại rằng để có thêm thu nhập, Hằng Phương từng buôn bán nhỏ, nấu tàu hũ và làm nhiều công việc khác nhau. Chính sự tảo tần ấy đã giúp gia đình duy trì cuộc sống, tạo điều kiện để Vũ Ngọc Phan chuyên tâm nghiên cứu và hoàn thành những công trình đồ sộ như “Nhà văn hiện đại”.
Sự tận tâm ấy còn thể hiện ở việc nuôi dạy các con trưởng thành. Nhiều người con của ông bà sau này trở thành những trí thức, nhà khoa học và văn nghệ sĩ nổi tiếng như Giáo sư, họa sỹ Vũ Giáng Hương; liệt sỹ Vũ Hoài Tuân - cán bộ cao cấp, chuyên gia vũ khí nguyên tử đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, từng làm thư ký cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp; Giáo sư Viện sỹ Vũ Tuyên Hoàng; chuyên gia cao cấp cơ khí Vũ Huyền Giao; Phó Giáo sư Vũ Phi Hồng; Giáo sư Vũ Triệu Mân; Kiến trúc sư Vũ Ngọc Phương.
Ngày 2/2/1983, nhà thơ Hằng Phương qua đời ở tuổi 75. Thời gian càng lùi xa, những giá trị mà Hằng Phương để lại càng được nhìn nhận rõ hơn. Đó là những vần thơ giàu tình quê hương, tình gia đình; là một cuộc đời tận tụy với đất nước, với văn hóa dân tộc; là hình ảnh tiêu biểu của lớp nữ trí thức Việt Nam đã góp phần làm nên diện mạo văn học hiện đại trong giai đoạn nhiều biến động của lịch sử.
* Bài viết có sử dụng thông tin tham khảo từ các nguồn:
- Nữ sĩ Hằng Phương và thủ pháp danh gia vọng tộc - Hội Nhà văn Việt Nam
- Chuyện tình của giai nhân phong trào Thơ mới - Tri thức - Znews
- Hằng Phương, nữ sĩ tiên phong của thơ Việt Nam hiện đại - Báo Giáo dục và Thời đại
- Nữ sĩ Hằng Phương (1908 - 2008) - Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam