Xuất khẩu gạo sang Philippines trước cơ hội lớn và những rủi ro bất định
Ngành lúa gạo Việt Nam đang đứng trước cơ hội mở rộng thị trường chưa từng có khi nhu cầu nhập khẩu từ các đối tác truyền thống, đặc biệt là Philippines, được dự báo tăng vọt. Tuy nhiên, đằng sau những con số tăng trưởng lạc quan là hàng loạt rủi ro tiềm ẩn từ sự bất định trong chính sách mậu dịch của đối tác tiêu thụ lớn nhất thế giới, cùng sức ép sống còn từ chi phí sản xuất đang đè nặng lên vựa lúa trong nước.
Cơ hội lớn từ cơn khát lương thực của các thị trường chủ lực
Bức tranh thương mại gạo toàn cầu trong năm 2026 đang cho thấy những tín hiệu hết sức tích cực đối với nguồn cung từ Việt Nam. Theo dự báo mới nhất của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), xuất khẩu gạo của Việt Nam trong năm 2026 có thể đạt khoảng 8,1 triệu tấn, tăng thêm 200.000 tấn so với ước tính trước đó. Động lực tăng trưởng chính tiếp tục đến từ các thị trường truyền thống, trong đó Philippines và Trung Quốc đóng vai trò trụ cột.
Thực tế số liệu trong nước 6 tháng đầu năm cũng phản ánh rõ xu hướng này khi Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 5,2 triệu tấn gạo (ghi nhận ở mức trên 5 triệu tấn), tăng gần 10% so với cùng kỳ. Hiện Philippines vẫn là thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm 45% thị phần, trong khi Trung Quốc vươn lên đứng thứ hai với thị phần 19,4% cùng tốc độ tăng trưởng phi mã đến 87%. Trong báo cáo cập nhật tháng 7, USDA cũng dự báo sản lượng gạo nhập khẩu của Trung Quốc trong năm nay sẽ đạt 3,9 triệu tấn, tăng 400.000 tấn so với dự báo cũ.
Đối với Philippines, quốc gia nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới này đang phải đối mặt với sự suy giảm nguồn cung nội địa nghiêm trọng. USDA dự báo Philippines sẽ phải nhập khẩu khoảng 5,6 đến 5,7 triệu tấn gạo trong năm 2026, mức này đã được nâng thêm 100.000 tấn so với ước tính trước đó và cao hơn đáng kể so với con số 4,8 triệu tấn do Bộ Nông nghiệp Philippines đưa ra. Minh chứng là chỉ trong 6 tháng đầu năm, Cục Công nghiệp Thực vật Philippines (BPI) ghi nhận nước này đã nhập khẩu 2,7 đến 2,75 triệu tấn gạo, tăng đến 20% so với cùng kỳ năm ngoái, và nguồn cung chính vẫn đến từ Việt Nam.
Nguyên nhân khiến cơn khát lương thực tại Philippines leo thang xuất phát từ việc USDA phải hạ dự báo sản lượng gạo xay xát năm 2026 của nước này xuống còn khoảng 12,3 triệu tấn. Chi phí sản xuất tăng cao, đặc biệt là giá phân bón leo thang đã khiến nông dân nước này hạn chế mở rộng diện tích gieo trồng. Thêm vào đó, mực nước tại nhiều hồ chứa phục vụ tưới tiêu đang giảm mạnh do thiếu hụt lượng mưa. Bộ Nông nghiệp Philippines nhận định sản lượng lúa có thể giảm tới 700.000 tấn nếu hiện tượng El Nino diễn biến nghiêm trọng, đồng thời cơ quan khí tượng nước này dự báo El Nino có khả năng xuất hiện từ cuối năm nay đến đầu năm 2027, làm gia tăng sức ép an ninh lương thực.
Nhờ lực cầu tích cực và việc đã xuất khẩu trên 5 triệu tấn ngay trong nửa đầu năm, giai đoạn cuối năm Việt Nam không phải chịu áp lực bán hàng hay giải quyết tồn kho. Trên thị trường quốc tế, giá gạo Việt Nam tiếp tục duy trì thế ổn định và cạnh tranh. Hiện gạo Jasmine được chào bán quanh mức 513 – 517 USD/tấn, gạo thơm 5% tấm dao động 510 – 520 USD/tấn, và gạo 100% tấm ở mức 348 – 352 USD/tấn. Mức giá này cho thấy vị thế vững chắc nếu đặt cạnh nền tảng lịch sử năm 2024 (xuất khẩu kỷ lục gần 9,2 triệu tấn, kim ngạch 5,7 tỷ USD) và năm 2025 (đạt 7,85 triệu tấn, trị giá 4 tỷ USD).
Rủi ro từ chính sách mậu dịch và bài toán nội sinh nơi vựa lúa
Dù thị trường xuất khẩu rộng mở, ngành lúa gạo Việt Nam lại đang phải đối mặt với nghịch lý lớn khi đối tác tiêu thụ quan trọng nhất là Philippines liên tục thay đổi chính sách gây biến động mạnh về giá. Vào 3 tháng cuối năm 2025, việc quốc gia này tạm ngưng nhập khẩu đã khiến giá gạo Việt Nam rơi xuống đáy, trước khi họ đẩy mạnh mua vào trong nửa đầu năm 2026. Tuy nhiên đến cuối tháng 6 vừa qua, Philippines lại thông báo tạm ngưng cấp phép nhập khẩu gạo 5% tấm trong tháng 7 – đây chính là dòng gạo nhập khẩu chủ lực.
Sự bất định chưa dừng lại ở đó khi mới nhất vào đầu tuần, Philippines tiếp tục cân nhắc tăng thuế nhập khẩu ít nhất 13% đối với gạo từ Việt Nam, Thái Lan, Pakistan và Myanmar nhằm bảo vệ sản xuất nội địa. Việc áp đặt các biện pháp tự vệ này đã vấp phải phản ứng gay gắt từ Pakistan – nhà cung cấp gạo lớn thứ 5 cho Philippines với sản lượng 3.866 tấn trong 6 tháng đầu năm. Đại diện Bộ Thương mại và Đầu tư Pakistan cho rằng các động thái này có thể vi phạm các quy tắc của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
Theo các doanh nghiệp, dù Việt Nam có các thị trường truyền thống khác như Trung Quốc và châu Phi để bù đắp sản lượng mỗi khi Philippines ngưng nhập, nhưng giá gạo tại các thị trường thay thế này không tăng khiến cả nông dân và doanh nghiệp đều không có lãi. Ông Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Công ty TNHH SX-TM Phước Thành IV (Vĩnh Long), chỉ rõ việc Philippines cứ đóng mở liên tục với chính sách thay đổi từng tháng đang ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu, đặt ra áp lực lớn cần giải quyết khi giá lúa thấp tác động trực tiếp đến nông dân.
Sức ép thị trường ngoại diễn ra đúng thời điểm người trồng lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long đang phải gồng mình chống chội với khó khăn kép trong vụ thu hoạch hè thu: chi phí tăng cao nhưng năng suất sụt giảm. Ông Dương Văn Siêu, Phó giám đốc HTX Thuận Thắng (TP.Cần Thơ), cho biết năng suất lúa hiện chỉ đạt 600 kg/công, giảm từ 150 – 200 kg so với bình thường, thậm chí nhiều hộ chỉ đạt 400 – 450 kg/công do thời điểm gieo sạ gặp nắng nóng gay gắt, phải tốn chi phí phun thuốc xử lý dinh dưỡng đôi ba lần. Kéo theo đó, giá phân bón các loại tăng bình quân 50 – 70% đã nuốt trọn thành quả.
Sau vụ đông xuân thua lỗ vì giá lúa giảm mạnh, đến vụ hè thu dù giá có tăng nhẹ vài trăm đồng/kg, bà con vẫn rơi vào cảnh càng làm càng lỗ, với những hộ thuê đất mức thua lỗ ước tính lên khoảng 1 triệu đồng/công. Tình trạng này khiến nhiều nông dân quyết định tạm ngưng xuống giống vụ tiếp theo. Nỗi lo càng chất chồng khi vụ lúa thu đông sắp tới thường rơi vào mùa mưa bão, năng suất và chất lượng thấp sẽ khó bán được giá cao. Các doanh nghiệp trong vùng cũng thừa nhận sản lượng vụ hè thu năm nay rất thấp do mất mùa và giá phân bón cao khiến nhà nông không còn mặn mà.
Số liệu báo cáo từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác nhận tính đến cuối tháng 6, diện tích gieo cấy lúa hè thu cả nước chỉ đạt 1,71 triệu ha, giảm 4,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, dịch bệnh trên lúa lại bùng phát mạnh: bệnh đạo ôn lá tăng 24%, đạo ôn cổ bông tăng 50%, bệnh bạc lá tăng 40%, bệnh khô vằn tăng 18% và ốc bươu vàng hại lúa tăng 38%. Diện tích thu hẹp cộng với dịch bệnh chắc chắn sẽ ảnh hưởng đáng kể đến tổng sản lượng. Hiện thị trường lúa gạo nội địa đang duy trì trạng thái ổn định nhưng mua bán diễn ra chậm, sức mua yếu khiến giá lúa tươi tại An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long, Cà Mau và Tây Ninh gần như đi ngang.
Cụ thể tại ruộng, giá lúa tươi Đài Thơm 8 dao động 6.450 – 6.600 đồng/kg, OM 18 từ 6.300 – 6.500 đồng/kg, IR 50404 giữ mức 5.700 – 5.800 đồng/kg, trong khi OM 34 và OM 5451 phổ biến quanh 5.600 – 5.800 đồng/kg. Đối với gạo nguyên liệu xuất khẩu, giá IR 504 dao động 8.950 – 9.050 đồng/kg, CL 555 ở mức 9.400 – 9.500 đồng/kg, OM 5451 đạt 9.500 – 9.600 đồng/kg, dòng gạo thơm Đài Thơm 8 và OM 18 nằm trong khoảng 8.700 – 9.400 đồng/kg, còn gạo thành phẩm IR 504 giữ mức 10.750 – 10.900 đồng/kg. Nhóm phụ phẩm nhích nhẹ với tấm thơm đạt 8.200 – 8.300 đồng/kg và cám duy trì 7.950 – 8.100 đồng/kg. Giá bán lẻ gạo trong nước không biến động, cao nhất là Nàng Nhen khoảng 28.000 đồng/kg, Hương Lài 22.000 đồng/kg, Jasmine từ 16.000 – 17.000 đồng/kg và gạo thường từ 13.000 – 16.000 đồng/kg.
Trước bức tranh đầy biến động từ thời tiết, chi phí đến địa chính trị và sự phân hóa mạnh mẽ về giá trên thị trường châu Á, giới chuyên gia nhận định Việt Nam cần khẩn trương có chính sách bảo vệ và hỗ trợ nông dân trồng lúa. Ông Phạm Thái Bình, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Nông nghiệp công nghệ cao Trung An, nhấn mạnh về lâu dài cần chính sách phát triển bền vững, hỗ trợ nông dân và doanh nghiệp liên kết xây dựng vùng nguyên liệu gắn với thị trường tiêu thụ, tập trung phát triển các dòng sản phẩm chất lượng cao, phát thải thấp để xâm nhập các phân khúc cao cấp.
Ở góc độ vĩ mô, TS Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD), phân tích rằng các nước hiện đều tăng cường kho dự trữ lương thực nên trước mắt nhu cầu nhập khẩu chưa tăng mạnh, nhưng trong trung và dài hạn lực cầu này sẽ bùng nổ, dẫn đến nguy cơ chúng ta không còn gạo để bán nếu không chuẩn bị ngay từ bây giờ trước xu hướng thời tiết cực đoan. Do người nông dân không có cơ sở hạ tầng để dự trữ, bài toán này phải bắt đầu từ cấp độ doanh nghiệp. Tuy nhiên, vì tiềm lực doanh nghiệp Việt Nam còn "mỏng lưng" và ít vốn, Nhà nước cần có sự hỗ trợ thiết thực thông qua các chính sách thu mua tạm trữ, phát triển thị trường Chính phủ với Chính phủ (G2G), đồng thời cơ quan dự trữ quốc gia cần sớm triển khai kế hoạch tăng cường thu mua dự trữ trong dài hạn.




