Vì sao nông sản Việt khó bước vào cuộc đua phát thải thấp?

Thương hiệu 19/05/2026 09:50

Dù tiềm năng tạo tín chỉ carbon từ canh tác bền vững là rất lớn nhưng nông nghiệp nước ta vẫn đang vấp phải nhiều rào cản mang tính hệ thống. Việc thiếu liên kết chuỗi cùng khoảng trống dữ liệu khiến ngành này khó tiếp cận nguồn vốn xanh, đồng thời gặp nhiều trở ngại trong thương mại hóa các nỗ lực giảm phát thải trên đồng ruộng trên phạm vi toàn quốc.

Nông nghiệp xanh mắc kẹt trong sản xuất manh mún

toananh_1779157368.png
Toàn cảnh hội nghị. Ảnh: Bảo Thắng

Ngành nông nghiệp Việt Nam đã chạm ngưỡng tăng trưởng sau nhiều năm mở rộng diện tích và gia tăng sản lượng xuất khẩu. Trong bối cảnh các hàng rào tiêu chuẩn xanh ngày càng siết chặt, chuyển đổi sang mô hình phát thải thấp trở thành yêu cầu bắt buộc đối với các ngành hàng chủ lực. Tuy nhiên, thực tế cho thấy khó khăn lớn nhất không nằm ở công nghệ sản xuất mà ở năng lực tổ chức trên quy mô lớn. Khi bước vào cuộc đua thương mại hóa các nỗ lực xanh, mô hình sản xuất phân tán ngay lập tức vấp phải chiếc bẫy chi phí quản trị chuỗi.

Theo Cục Biến đổi khí hậu, hệ thống đo lường, báo cáo và thẩm định MRV chính là hạ tầng bắt buộc để kiểm kê khí nhà kính. Để một dự án được cấp tín chỉ carbon, doanh nghiệp phải trải qua chuỗi quy trình phức tạp từ lựa chọn phương pháp luận đến khâu thẩm định quốc gia. Chi phí lập hồ sơ có thể lên tới hàng chục nghìn USD, chưa kể chi phí vận hành hệ thống giám sát định kỳ. Chính rào cản chi phí hành chính khổng lồ này đã biến việc tham gia thị trường carbon trở thành thử thách quá sức đối với các hộ nông dân.

Ông Nguyễn Văn Minh, Trưởng phòng Kinh tế và thông tin biến đổi khí hậu thuộc Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đưa ra đánh giá rất thẳng thắn. Ông Minh nhận định thách thức lớn nhất không phải là công nghệ giảm phát thải mà là khả năng tổ chức sản xuất. Theo ông Minh, nếu tiếp tục duy trì mô hình sản xuất manh mún và trống rỗng dữ liệu như hiện nay thì mọi nỗ lực đều sẽ rơi vào bế tắc. Sự phân tán trong sản xuất khiến công nghệ dù tiên tiến đến đâu cũng bất lực trước chi phí quản lý.

Sự bất đối xứng giữa năng lực kỹ thuật và năng lực tổ chức tiếp tục dẫn tới một nghịch lý khác trên bình diện tài chính xanh. Chuyển đổi sang nông nghiệp xanh đồng nghĩa với nhu cầu nguồn vốn khổng lồ cho hạ tầng xử lý chất thải hay hệ thống tưới tiết kiệm. Tuy nhiên, thực tế quản lý cho thấy ngành nông nghiệp không hẳn thiếu vốn đầu tư. Vấn đề cốt lõi nằm ở chỗ các chủ thể sản xuất hiện vẫn thiếu năng lực hấp thụ dòng vốn xanh từ hệ thống ngân hàng.

Bà Nguyễn Thị Hoàng Yến, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã phân tích sâu sắc về khoảng cách này. Bà Yến nhấn mạnh nông nghiệp xanh đòi hỏi nguồn lực đầu tư rất lớn từ xã hội. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất hiện nay vẫn có quy mô nhỏ, thiếu tài sản bảo đảm và hạn chế về năng lực quản trị tài chính. Đặc biệt, sự thiếu hụt dữ liệu minh bạch đang tạo ra điểm nghẽn niềm tin lớn, khiến dòng vốn khó được khơi thông.

Xây dựng hệ sinh thái liên kết và số hóa dữ liệu

rau_1779157515.png
Những mô hình thực tế như quy trình sản xuất VietGAP tại HTX Tuấn Ngọc đã chứng minh giải quyết điểm nghẽn về kỹ thuật canh tác, quy trình sản xuất giảm phát thải hoàn toàn khả thi. Ảnh: Hàn Mai

Để tháo gỡ những điểm nghẽn cốt lõi này, quá trình giảm phát thải đòi hỏi ngành trồng trọt phải hình thành một hệ sinh thái mới. Điểm sáng thực tế từ quy trình sản xuất VietGAP tại Hợp tác xã Tuấn Ngọc ở TP.HCM chính là câu trả lời rõ nét nhất. Mô hình này cho thấy nông dân hoàn toàn có đủ năng lực làm chủ công nghệ tiên tiến trên đồng ruộng để tạo ra nông sản xanh, miễn là quy trình được thiết kế hợp lý, không vượt quá sức lao động và được tổ chức bài bản thông qua liên kết chuỗi.

Trong hệ sinh thái đó, mô hình kinh tế tập thể với hạt nhân là các hợp tác xã phải đứng lên làm đầu mối tổ chức. Các hợp tác xã cần tự nâng cấp mình từ vai trò thuần túy làm kỹ thuật như chuẩn VietGAP tại Hợp tác xã Tuấn Ngọc để phát triển thành đầu mối quản lý dữ liệu vùng nguyên liệu. Khi hợp tác xã đủ năng lực đại diện cho nông dân tham gia bảo lãnh tín dụng và quản lý dòng tiền, họ sẽ giúp giảm đáng kể chi phí hành chính và rào cản kỹ thuật, qua đó giải quyết tận gốc điểm nghẽn niềm tin.

Bà Nguyễn Thị Hoàng Yến, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng chia sẻ giải pháp từ kinh nghiệm quốc tế. Bà Yến phân tích bài học từ Nhật Bản cho thấy khi hợp tác xã nông nghiệp đủ năng lực tham gia bảo lãnh tín dụng và quản lý dòng tiền thì hiệu quả vận hành sẽ hoàn toàn khác biệt. Hợp tác xã sẽ đứng ra giám sát việc sử dụng vốn và trực tiếp tổ chức chuỗi liên kết sản xuất. Nhờ đó, chi phí giao dịch cũng như rủi ro tín dụng đối với hệ thống ngân hàng sẽ giảm đi đáng kể.

Song hành với hợp tác xã, các doanh nghiệp cần thực hiện tốt vai trò dẫn dắt chuỗi giá trị và xây dựng vùng nguyên liệu phát thải thấp trên quy mô lớn. Doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở việc kết nối thị trường tiêu thụ mà còn phải tham gia sâu vào quá trình quản trị dữ liệu phát thải cùng nông dân. Đồng thời, công nghệ cũng cần được định vị lại để trở thành công cụ quản trị dữ liệu thông qua hệ thống MRV và các nền tảng chuyển đổi số. Việc số hóa toàn bộ lộ trình sẽ giúp biến các nỗ lực xanh thành dữ liệu minh bạch, sẵn sàng cho thị trường trong tương lai.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung đã đưa ra chỉ đạo mang tính chiến lược về định hướng quản trị mới của ngành. Thứ trưởng Hoàng Trung khẳng định sản xuất trồng trọt giảm phát thải không chỉ là giải pháp môi trường mà phải trở thành chiến lược phát triển mới. Theo đó, ngành nông nghiệp cần chuyển mạnh từ tư duy sản xuất theo sản lượng sang tư duy phát triển dựa trên chất lượng, hiệu quả và trách nhiệm. Thành công của đề án không nằm trên giấy tờ mà phải được thể hiện bằng những thay đổi thực chất trên đồng ruộng và trong hoạt động của các hợp tác xã nhằm định hình một nền nông nghiệp phát triển bền vững.

Mai Hương
Tin đáng đọc