Mở dư địa mới cho hợp tác năng lượng Việt Nam - Liên bang Nga

Tiêu điểm 07/09/2026 11:05

Trên nền tảng hợp tác dầu khí hàng chục năm với những biểu tượng thành công như Vietsovpetro và Rusvietpetro, quan hệ năng lượng Việt Nam - Liên bang Nga đang đứng trước cơ hội mở rộng sang khí, LNG, điện khí, năng lượng ngoài khơi và công nghệ phát thải thấp.

thap1_1788753767.jpg
TS. Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam, nguyên Phó Tổng Giám đốc Petrovietnam.

Nhân chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, trao đổi với Báo điện tử Chính phủ, TS. Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam, nguyên Phó Tổng Giám đốc Petrovietnam kỳ vọng chuyến thăm sẽ tạo động lực đưa hợp tác năng lượng hai nước bước sang giai đoạn phát triển mới, sâu rộng, thực chất và dài hạn hơn.

Thưa ông, thời gian qua, đặc biệt là sau các chuyến thăm và tiếp xúc cấp cao giữa lãnh đạo Việt Nam và Liên bang Nga trong năm 2026, hợp tác năng lượng tiếp tục được xác định là một trong những trụ cột quan trọng trong quan hệ hai nước. Ông đánh giá như thế nào về những kết quả thực chất đạt được trong hợp tác năng lượng Việt Nam - Liên bang Nga thời gian gần đây, đặc biệt trong lĩnh vực dầu khí?

TS. Nguyễn Quốc Thập: Có thể đánh giá rằng hợp tác năng lượng Việt Nam - Liên bang Nga thời gian gần đây đã có bước chuyển quan trọng: Từ việc khẳng định lại quyết tâm chính trị ở cấp cao sang củng cố nền tảng pháp lý, kéo dài vòng đời các liên doanh hiện hữu và mở đường cho một thế hệ dự án mới.

Trước hết, kết quả thực chất nhất vẫn nằm ở hai liên doanh Vietsovpetro tại Việt Nam và Rusvietpetro tại Liên bang Nga. Đây không chỉ là các dự án hợp tác có hiệu quả kinh tế, mà đã hình thành một mô hình hợp tác hai chiều tương đối hiếm có khi hai bên cùng góp vốn, cùng quản trị, chia sẻ rủi ro và lợi ích trên lãnh thổ của cả hai nước. 

Đặc biệt, Rusvietpetro đã trở thành một trong những dự án đầu tư ra nước ngoài thành công nhất của Petrovietnam, khẳng định doanh nghiệp Việt Nam có thể trực tiếp tham gia các dự án dầu khí có điều kiện địa chất, khí hậu và công nghệ rất phức tạp tại Nga. 

Theo số liệu đã công bố, Rusvietpetro đã khai thác gần 40 triệu tấn dầu, tạo ra lợi nhuận trên 3 tỷ USD, trong đó phía Petrovietnam đã chuyển về nước xấp xỉ 1,4 tỷ USD từ phần vốn góp 49%. Đây là hiệu quả kinh tế rất cụ thể, chứ không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng.

Thứ hai, các cuộc tiếp xúc cấp cao đã góp phần xử lý một trong những vấn đề quan trọng nhất của hợp tác dầu khí, đó là tạo hành lang pháp lý đủ dài hạn để duy trì và mở rộng hoạt động của Vietsovpetro và Rusvietpetro. 

Hai bên đã hoàn tất đàm phán, ký các nghị định thư sửa đổi hiệp định liên Chính phủ đối với hai liên doanh, đồng thời ký hiệp định về mở rộng khu vực thăm dò địa chất và khai thác dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam và lãnh thổ Liên bang Nga. 

Trong chuyến thăm Nga tháng 3/2026, các doanh nghiệp tiếp tục ký những hợp đồng cụ thể để triển khai các văn kiện này. Đây có thể coi là kết quả nổi bật nhất của năm 2026 bởi nó trực tiếp tạo điều kiện kéo dài vòng đời mỏ, bổ sung khu vực hoạt động, huy động vốn và áp dụng công nghệ nâng cao hệ số thu hồi dầu.

Thứ ba, hợp tác đang được mở rộng từ khai thác dầu truyền thống sang phát triển khí và hình thành chuỗi giá trị năng lượng rộng hơn. Dự án khí Thiên Nga - Hải Âu tại Lô 12/11 với sự tham gia của Zarubezhneft và các đơn vị thuộc Petrovietnam dự kiến cung cấp khoảng 7,43 tỷ m³ khí cho khu vực Đông Nam Bộ trong giai đoạn 2026-2037. Nếu được đưa vào khai thác đúng tiến độ, dự án sẽ có ý nghĩa trực tiếp đối với việc bù đắp suy giảm nguồn khí trong nước và bảo đảm nhiên liệu cho sản xuất điện, công nghiệp.

Một kết quả đáng ghi nhận khác là không gian hợp tác đã được mở rộng sang công nghệ, thiết bị, dịch vụ kỹ thuật và đào tạo nhân lực. Việc Petrovietnam kết nối với các doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học tại Tyumen cho thấy hai bên bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến công nghệ xử lý giếng, nâng cao thu hồi dầu, số hóa mỏ, bảo dưỡng thiết bị và nghiên cứu - phát triển. Đây là hướng rất phù hợp với Việt Nam, bởi phần lớn các mỏ hiện hữu đã bước vào giai đoạn suy giảm sản lượng, trong khi các đối tượng mới ngày càng nhỏ, sâu, xa bờ và có điều kiện địa chất phức tạp.

Bên cạnh dầu khí truyền thống, các cuộc tiếp xúc năm 2026 cũng đã mở ra những hướng hợp tác mới như cung cấp dầu thô và sản phẩm dầu khí dài hạn, xây dựng kho dự trữ dầu, phát triển LNG, điện khí, điện gió ngoài khơi và hợp tác tại nước thứ ba. Thủ tướng Chính phủ đã làm việc với Novatek, khuyến khích tập đoàn này nghiên cứu đầu tư kho cảng LNG, nhà máy điện khí và cung cấp LNG ổn định cho Việt Nam; Zarubezhneft cũng đề xuất dự án điện gió ngoài khơi công suất khoảng 1 GW. Những đề xuất này thể hiện sự chuyển dịch từ "hợp tác dầu khí" sang "đối tác năng lượng toàn diện".

Hợp tác dầu khí Việt Nam - Liên bang Nga có nền tảng hàng chục năm với những biểu tượng thành công như Vietsovpetro, Rusvietpetro. Theo ông, trong bối cảnh các mỏ truyền thống suy giảm sản lượng, yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng và chuyển dịch năng lượng ngày càng cao, mô hình hợp tác này cần được làm mới như thế nào để tiếp tục tạo ra những kết quả tương xứng với tiềm năng và quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước?

TS. Nguyễn Quốc Thập: Trong giai đoạn mới, hợp tác dầu khí Việt Nam - Liên bang Nga cần được chuyển từ mô hình liên doanh khai thác tài nguyên truyền thống sang mô hình đối tác năng lượng - công nghệ - đầu tư dài hạn. Vietsovpetro và Rusvietpetro vẫn là hai trụ cột quan trọng nhưng không thể chỉ tiếp tục khai thác trên những nền tảng đã hình thành mà cần được trao một không gian phát triển mới tương xứng với quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước.

Trước hết, phải làm mới ngay chính "lõi dầu khí" của hợp tác. Khi các mỏ truyền thống bước vào giai đoạn suy giảm, nhiệm vụ trọng tâm không chỉ là duy trì sản lượng mà phải đồng thời triển khai 3 hướng: Gia tăng trữ lượng mới; nâng cao hệ số thu hồi tại các mỏ đang khai thác và phát triển các phát hiện nhỏ, mỏ cận biên, mỏ nước sâu - xa bờ. Muốn vậy, cần mở rộng khu vực hoạt động cho Vietsovpetro và Rusvietpetro, cho phép hai liên doanh tham gia các dự án mới tại Việt Nam, Liên bang Nga và những quốc gia thứ ba, thay vì bị giới hạn trong các lô và địa bàn truyền thống. Việc hai Chính phủ sửa đổi các hiệp định liên Chính phủ và mở rộng phạm vi thăm dò, khai thác vừa qua là nền tảng pháp lý quan trọng; bước tiếp theo phải là danh mục dự án, chương trình công tác và cam kết đầu tư cụ thể.

Cùng với đó, cần chuyển trọng tâm hợp tác từ "chia sẻ sản lượng" sang "đồng phát triển và làm chủ công nghệ". Nga có thế mạnh về khoan sâu, khai thác trong điều kiện địa chất phức tạp, xử lý giếng, nâng cao thu hồi dầu, phát triển mỏ tại vùng khí hậu khắc nghiệt và công nghệ năng lượng. Việt Nam lại có đội ngũ kỹ thuật biển, năng lực chế tạo - xây lắp công trình ngoài khơi và kinh nghiệm vận hành mỏ trong điều kiện nhiệt đới. Hai bên có thể xây dựng các trung tâm R&D chung, phòng thí nghiệm số, cơ sở dữ liệu địa chất - địa vật lý dùng chung và chương trình thử nghiệm công nghệ tại mỏ. Hiệu quả hợp tác vì vậy không chỉ được đo bằng số tấn dầu khai thác, mà còn bằng số công nghệ Việt Nam tiếp nhận, làm chủ và có thể xuất khẩu.

Hơn nữa, cần mở rộng từ dầu sang chuỗi khí - LNG - điện khí. Trong bối cảnh nguồn khí nội địa suy giảm, hợp tác với Nga có thể được phát triển đồng bộ từ tìm kiếm và khai thác khí, cung cấp LNG dài hạn, đầu tư kho cảng và tái hóa khí, vận chuyển, dự trữ đến phát triển các dự án điện khí. Tuy nhiên, không nên chỉ dừng ở quan hệ "Nga bán LNG - Việt Nam mua LNG". Hướng có giá trị hơn là hình thành các liên danh đầu tư, trong đó doanh nghiệp Nga cùng tham gia vốn, công nghệ và nguồn cung; doanh nghiệp Việt Nam đảm nhiệm hạ tầng, thị trường và vận hành. Cách tiếp cận này sẽ gắn trách nhiệm của nhà cung cấp với hiệu quả của toàn chuỗi và tăng khả năng đạt quyết định đầu tư cuối cùng.

khi_1788753849.jpg
Thủ tướng Lê Minh Hưng chứng kiến lễ trao Giấy chứng nhận đầu tư của PSC Lô 01/17&02/17, thềm lục địa Việt Nam giữa Petrovietnam và Tập đoàn Zarubezhneft, trong khuôn khổ chuyến công tác tham dự Hội nghị Cấp cao kỷ niệm 35 năm quan hệ ASEAN - Nga, tháng 6/2026 - Ảnh: chinhphu.vn

Trong bối cảnh Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sắp có chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga, ông kỳ vọng chuyến thăm sẽ tạo ra những động lực mới nào cho hợp tác năng lượng hai nước?

TS. Nguyễn Quốc Thập: Trước hết, tôi kỳ vọng hai nước có thể hướng tới một khuôn khổ hợp tác năng lượng mang tính chiến lược và dài hạn, thay vì chủ yếu dựa trên từng dự án riêng lẻ. Một khuôn khổ hợp tác với tầm nhìn đến năm 2035, xa hơn là năm 2050, có thể mở rộng từ dầu khí truyền thống sang LNG, điện khí, năng lượng hạt nhân, năng lượng ngoài khơi, công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực. Nếu hình thành được một định hướng hợp tác như vậy, cùng với các dự án ưu tiên và cơ chế phối hợp phù hợp, đây sẽ là nền tảng quan trọng để quan hệ năng lượng hai nước phát triển ổn định và bền vững hơn.

Tôi cũng hy vọng chuyến thăm sẽ tạo thêm động lực cho một giai đoạn phát triển mới của Vietsovpetro và Rusvietpetro - hai biểu tượng rất thành công của hợp tác Việt Nam - Liên bang Nga trong lĩnh vực dầu khí. Dư địa hợp tác vẫn còn lớn, từ mở rộng tìm kiếm, thăm dò và khai thác, phát triển các mỏ nhỏ, mỏ cận biên đến ứng dụng công nghệ nâng cao hệ số thu hồi tại các mỏ đang suy giảm. Xa hơn, hai liên doanh cũng có thể nghiên cứu cơ hội cùng tham gia các dự án tại nước thứ ba. Tôi mong rằng những khuôn khổ, nghị định thư và thỏa thuận đã có sẽ tiếp tục được cụ thể hóa thành các dự án và chương trình hợp tác mang lại hiệu quả thiết thực cho cả hai bên.

Thứ ba, một lĩnh vực rất đáng chú ý là hợp tác về khí - LNG - điện khí. Liên bang Nga có thế mạnh về nguồn khí, năng lực sản xuất LNG và kinh nghiệm phát triển chuỗi công nghiệp khí, trong khi Việt Nam có nhu cầu năng lượng ngày càng lớn và đang phát triển hạ tầng LNG, điện khí. Đây là những lợi thế có tính bổ trợ cho nhau. Tôi kỳ vọng hai bên có thể nghiên cứu những mô hình hợp tác sâu hơn, không chỉ dừng ở quan hệ mua - bán LNG mà từng bước mở rộng sang đầu tư và phát triển chuỗi giá trị từ nguồn LNG, kho cảng, tái hóa khí, đường ống đến nhà máy điện và thị trường tiêu thụ. Nếu các bên tìm được phương án phù hợp về thương mại, đầu tư và chia sẻ rủi ro, hợp tác LNG và điện khí có thể trở thành một trụ cột mới trong quan hệ năng lượng Việt Nam - Liên bang Nga.

Trong tháng 3/2026, Novatek đã bày tỏ quan tâm tới một số dự án LNG tại Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Du, Nghi Sơn và Cà Ná. Tôi cho rằng đây là những tín hiệu tích cực và kỳ vọng sau chuyến thăm, các doanh nghiệp hai nước sẽ có thêm điều kiện để trao đổi sâu hơn, từ đó xác định những dự án có tính khả thi cao để thúc đẩy hợp tác.

Đồng thời, tôi cũng kỳ vọng không gian hợp tác năng lượng Việt Nam – Liên bang Nga sẽ được mở rộng sang các lĩnh vực mới như năng lượng ngoài khơi và công nghệ phát thải thấp. Việt Nam có kinh nghiệm, hạ tầng và đội ngũ kỹ thuật dầu khí ngoài khơi được tích lũy trong nhiều thập kỷ; phía Nga cũng có thế mạnh về công nghệ và quản trị các dự án năng lượng quy mô lớn. Đây là cơ sở để hai bên nghiên cứu những cơ hội hợp tác mới trong điện gió ngoài khơi, thu giữ và lưu trữ carbon (CCS), lưu trữ khí, hydrogen cũng như tận dụng, chuyển đổi một phần hạ tầng dầu khí hiện hữu.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Nguồn: Theo baochinhphu.vn
Tin đáng đọc