HTX ở Bắc Ninh nâng vị thế trong chuỗi giá trị, mở rộng đường vào thị trường

Sản phẩm 07/09/2026 11:47

Với 1.360 Hợp tác xã (HTX) nông nghiệp, Bắc Ninh đang có nền tảng lớn để phát triển kinh tế tập thể. Tuy nhiên, số HTX tham gia sâu vào chuỗi giá trị vẫn còn hạn chế, đặt ra yêu cầu chuyển từ liên kết sản xuất - tiêu thụ sang tổ chức sản xuất, chế biến và thị trường theo chuỗi.

htx_1788684611.jpg
Nhiều HTX ở Bắc Ninh tạo được thương hiệu của sản phẩm và đảm bảo được lợi ích của các thành viên.

Từ nền tảng sản xuất đến những mắt xích đầu tiên trong chuỗi giá trị

Đến tháng 8/2025, toàn tỉnh Bắc Ninh có 1.360 HTX trong lĩnh vực nông nghiệp, gồm 606 HTX trồng trọt, 116 HTX thủy lợi, 180 HTX chăn nuôi, 11 HTX lâm nghiệp, 107 HTX thủy sản và 340 HTX tổng hợp. Trong số này, 154 HTX ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, chiếm 11,3% tổng số HTX.

Có 295 HTX có hoạt động liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông sản với các doanh nghiệp, đơn vị đầu mối thu mua, chiếm khoảng 21,6% tổng số HTX.

Những con số này cho thấy liên kết giữa HTX với doanh nghiệp và các đơn vị thu mua đã hình thành, nhưng mức độ tham gia vào chuỗi giá trị vẫn còn khoảng cách đáng kể. Phần lớn HTX nông nghiệp có quy mô nhỏ, năng lực tài chính hạn chế, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao; nhiều HTX hoạt động chưa hiệu quả và chủ yếu mới dừng ở khâu dịch vụ đầu vào. Trong khi đó, sự tham gia của HTX vào các khâu có giá trị gia tăng cao hơn như chế biến, bảo quản, phân phối còn hạn chế.

Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng phản ánh những khó khăn này. Tổng số vốn điều lệ của các HTX ước đạt trên 3.000 tỷ đồng, bình quân 2.200 triệu đồng/HTX. Doanh thu trung bình năm 2025 ước đạt khoảng 800 triệu đồng/HTX, giảm 150 triệu đồng so với năm 2021; lợi nhuận bình quân đạt 250 triệu đồng/HTX, giảm 115 triệu đồng so với năm 2021. Doanh thu, lợi nhuận của các HTX trong những năm gần đây chịu ảnh hưởng tiêu cực của dịch bệnh và thiên tai, khiến tăng trưởng chững lại, thậm chí một số loại hình HTX giảm sút nghiêm trọng.

Trong bức tranh đó, thu nhập bình quân của người lao động tại HTX năm 2025 ước đạt 5,5 triệu đồng/người/tháng, tương đương 66 triệu đồng/năm, tăng 6 triệu đồng so với năm 2021. Đáng chú ý, nhóm HTX có mức thu nhập bình quân cao là những HTX đa dạng loại hình dịch vụ, tổ chức sản xuất tốt và có liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm như HTX dịch vụ nông nghiệp tổng hợp, HTX trồng trọt và một số ít HTX chăn nuôi.

Liên kết vì vậy không chỉ được đặt trong câu chuyện tìm đầu ra cho nông sản, mà còn gắn với khả năng tổ chức lại sản xuất của HTX và nâng cao hiệu quả hoạt động.

Thực tế triển khai chính sách liên kết sản xuất - tiêu thụ trong những năm qua đã tạo thêm nền tảng cho quá trình này. Toàn tỉnh đã phê duyệt 8 kế hoạch liên kết với tổng kinh phí hơn 92 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ hơn 8 tỷ đồng, phần còn lại là vốn đối ứng của các bên tham gia. Nhiều mô hình liên kết sản xuất - tiêu thụ được hình thành, góp phần chuyển đổi tư duy sản xuất từ truyền thống sang hàng hóa tập trung, quy mô lớn, gắn kết giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

Tuy nhiên, kết quả liên kết chưa đồng nghĩa với việc HTX đã tham gia đầy đủ vào chuỗi giá trị. Hiện toàn tỉnh có 325 HTX nông nghiệp có hoạt động liên kết sản xuất - tiêu thụ sản phẩm với doanh nghiệp và đơn vị thu mua, chiếm khoảng 35% tổng số HTX; trong đó chỉ có 06 HTX liên kết theo chuỗi giá trị đối với sản phẩm chủ lực, an toàn.

Liên kết không chỉ để có đầu ra, mà để nâng vị thế của HTX

Những kết quả khảo sát cho thấy khi tham gia liên kết chuỗi giá trị, HTX không chỉ có thêm cơ hội tiêu thụ sản phẩm mà còn có điều kiện mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Khi tham gia chuỗi, HTX phải tổ chức cung cấp dịch vụ tập trung để đáp ứng yêu cầu thực hành sản xuất; đồng thời có thể được doanh nghiệp ủy quyền thực hiện một số dịch vụ trong chuỗi giá trị và được hỗ trợ cơ sở hạ tầng từ Nhà nước. Đây là những yếu tố tạo điều kiện để HTX mở rộng phạm vi hoạt động.

Liên kết cũng tạo thêm những nguồn thu mới cho HTX. Một số doanh nghiệp trả tiền cho công sức của cán bộ HTX tham gia triển khai liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Khoản chi trả này gắn với việc cán bộ HTX giám sát thành viên tuân thủ quy trình kỹ thuật, hướng dẫn thành viên và phân phối vật tư do doanh nghiệp ứng trước cho thành viên. Qua khảo sát, 44,7% HTX có liên kết chuỗi giá trị được khảo sát cho biết doanh nghiệp trả khoản tiền này.

nho_1788684749.jpg
Mô hình sản xuất nho không hạt trong nhà lưới cho hiệu quả kinh tế cao của HTX sản xuất dịch vụ thương mại nông nghiệp sạch Bình Dương (xã Nhân Thắng) (Ảnh: bacninh.gov.vn)

Bên cạnh đó, HTX còn có thu nhập từ tiền hoa hồng khi thực hiện dịch vụ cung cấp vật tư nông nghiệp. Kết quả khảo sát cho thấy 28,9% HTX đã nhận được tiền hoa hồng từ đối tác cung cấp vật tư, dịch vụ đầu vào.

Một tác động khác là sự thay đổi về năng lực của đội ngũ quản lý. Có 60,5% HTX được khảo sát đánh giá việc tham gia liên kết chuỗi giá trị đã giúp nâng cao năng lực của cán bộ quản lý HTX. Năng lực này được cải thiện thông qua tập huấn, bồi dưỡng kiến thức quản lý HTX, kiến thức kỹ thuật sản xuất và quá trình trực tiếp thực hiện các công việc như xây dựng phương án, thuyết phục người dân, huy động vốn. Một số HTX còn được doanh nghiệp cử cán bộ tham gia quản lý, hỗ trợ quản lý HTX.

Liên kết cũng làm thay đổi vai trò của HTX trong quan hệ với thành viên. Có 73,7% HTX được khảo sát đánh giá việc tham gia liên kết chuỗi giá trị giúp nâng cao vai trò, uy tín của HTX đối với thành viên. Vai trò này được củng cố thông qua việc HTX tổ chức cung cấp vật tư đầu vào, dịch vụ sản xuất, đào tạo kỹ năng sản xuất cho thành viên và quan trọng hơn là tổ chức tiêu thụ sản phẩm cho thành viên.

Từ góc độ sản xuất, liên kết còn giúp giải quyết tình trạng sản xuất nhỏ lẻ của các hộ thành viên. Việc hình thành khu sản xuất tập trung, cánh đồng mẫu lớn, vùng nguyên liệu lớn tạo cơ sở để đưa tiến bộ khoa học vào sản xuất theo quy trình công nghệ, tiêu chuẩn hóa các tiêu chí về chất lượng và tạo ra lượng hàng hóa đủ lớn đáp ứng yêu cầu của thị trường. Qua đó, những hạn chế của mô hình kinh tế hộ nhỏ, lẻ từng bước được khắc phục.

Đáng chú ý, niềm tin của thành viên cũng là một yếu tố đối với sự thành công của HTX trong chuỗi liên kết. Kết quả khảo sát tại các HTX có liên kết chuỗi giá trị cho thấy 97,6% thành viên rất tin tưởng vào tập thể lãnh đạo HTX. Bộ máy quản trị phải có năng lực quản lý, sâu sát hoàn cảnh thành viên, có khả năng xây dựng chiến lược phù hợp, có quy chế quản lý rõ ràng, phân định trách nhiệm cụ thể và công khai, minh bạch hoạt động với thành viên.

Như vậy, giá trị của liên kết không chỉ nằm ở hợp đồng đầu ra. Khi tổ chức được sản xuất theo yêu cầu của chuỗi, HTX phải nâng cao năng lực quản trị, tổ chức dịch vụ, tập hợp thành viên và thực hiện nhiều công việc hơn trong quá trình sản xuất - tiêu thụ. Đây cũng là cơ sở để HTX từng bước chuyển từ vai trò cung cấp dịch vụ sang vai trò tổ chức sản xuất và kết nối các tác nhân trong chuỗi.

Đi sâu vào chuỗi từ vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn đến thị trường

Dù mang lại nhiều tác động tích cực, quá trình tham gia chuỗi giá trị của các HTX vẫn đứng trước những điểm nghẽn rõ rệt. Khảo sát cho thấy 55,3% HTX cho biết không có vốn; 39,5% không có đất, nhà xưởng, máy móc, thiết bị; 15,8% không có phương tiện vận chuyển; 28,9% gặp hạn chế về trình độ, năng lực của cán bộ quản lý. Ngoài ra còn có những khó khăn từ quy mô sản xuất nhỏ của hộ thành viên, giá thu mua của doanh nghiệp, thói quen thực hành sản xuất, cơ sở hạ tầng và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng sản phẩm.

Những hạn chế về vốn và tài sản cũng cho thấy vì sao HTX khó tham gia sâu vào những công đoạn tạo giá trị gia tăng cao. HTX muốn tham gia chuỗi hiệu quả phải có vốn kinh doanh, tài sản, trang thiết bị máy móc để thực hiện các khâu trong chuỗi. Khi tham gia liên kết, HTX phải thực hiện nhiều hoạt động dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh, đòi hỏi đầu tư về vốn, máy móc và đất đai.

Từ thực trạng đó, mục tiêu đặt ra là nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX theo hướng bền vững, hiện đại, từng bước chuyển đổi số và tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị nông sản. HTX được định hướng trở thành lực lượng nòng cốt trong xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hóa, thích ứng với hội nhập và chuyển đổi xanh - số.

ninh_1788684869.png
Nông dân Bắc Ninh ứng dụng đồng thời công nghệ Blockchain và chuẩn GS1 trong truy xuất nguồn gốc vải thiều xuất khẩu. Ảnh: Phạm Minh.

Trong giai đoạn 2026 - 2030, một trong những trọng tâm là hỗ trợ ít nhất 100 HTX áp dụng chuyển đổi số ở một hoặc nhiều khâu như sản xuất, quản lý, truy xuất nguồn gốc và bán hàng. Đồng thời, đặt mục tiêu hỗ trợ 10 - 12 mô hình HTX điển hình hoạt động theo chuỗi giá trị, đại diện cho các vùng sinh thái miền núi, trung du, đồng bằng và các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản. Các mô hình được ưu tiên đầu tư, nâng cấp hạ tầng và thiết bị phục vụ sản xuất, sơ chế, bảo quản, chế biến, bảo đảm an toàn thực phẩm, nâng cao giá trị gia tăng và nghiên cứu phát triển sản phẩm.

Cùng với đó, dự kiến hỗ trợ ít nhất 50 HTX phát triển sản phẩm chủ lực gắn với vùng nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ bền vững; trong đó tối thiểu 75 sản phẩm được tiêu chuẩn hóa theo các tiêu chuẩn như OCOP, VietGAP, HACCP, ISO. Việc trao đổi, học tập kinh nghiệm và nhân rộng mô hình liên kết chuỗi giá trị được đặt trong mục tiêu hình thành mạng lưới chuỗi nông sản chủ lực gắn với doanh nghiệp chế biến, phân phối và xuất khẩu.

Thị trường cũng được đặt vào vị trí quan trọng hơn trong quá trình tham gia chuỗi. Mục tiêu là ít nhất 50 HTX được hỗ trợ gian hàng số, tham gia các nền tảng thương mại điện tử và kênh bán hàng trực tuyến; đồng thời 50 HTX được khảo sát, nghiên cứu thị trường và tư vấn xây dựng phương án kinh doanh.

Theo định hướng giải pháp, HTX sẽ được hỗ trợ xây dựng gian hàng số và bán sản phẩm qua nhiều kênh, từ cửa hàng truyền thống, website thương mại điện tử, mạng xã hội đến các sàn như Shopee, Lazada, Amazon, eBay. Cùng với đó là chuyển giao hệ thống phần mềm quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh cho HTX, hỗ trợ đăng ký sở hữu trí tuệ, nhãn hàng hóa, mã số, mã vạch và phát triển sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm OCOP.

Ở cấp độ tổ chức sản xuất, HTX được xác định là trung gian tổ chức sản xuất, kết nối giữa nông dân với doanh nghiệp, ngân hàng và nhà khoa học. Chuỗi được định hướng từ đầu vào như giống, vật tư, kỹ thuật đến sản xuất, chế biến và tiêu thụ; gắn với tổ chức sản xuất tập trung, vùng nguyên liệu và các yêu cầu về chất lượng.

Để quá trình liên kết vận hành hiệu quả, các HTX cũng mong muốn có sự hỗ trợ trong tìm kiếm, kết nối doanh nghiệp tiêu thụ, vận động nông dân tham gia liên kết và thương thảo hợp đồng. Bên cạnh đó là hỗ trợ xử lý tranh chấp, vi phạm hợp đồng, kiểm tra việc thực hiện hợp đồng của các bên; hỗ trợ đào tạo, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, mở rộng thị trường, phát triển sản phẩm chủ lực và nâng cao năng lực bán hàng đa kênh.

Từ nền tảng liên kết sản xuất - tiêu thụ, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới vì thế không chỉ là có thêm hợp đồng đầu ra, mà là nâng cao năng lực tổ chức sản xuất, hình thành vùng nguyên liệu, đáp ứng tiêu chuẩn, đầu tư vào sơ chế, bảo quản, chế biến, xây dựng sản phẩm và mở rộng kênh bán hàng.

Đó cũng là hướng đi được xác định để nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp, gia tăng giá trị sản phẩm và hướng tới sự tham gia hiệu quả hơn của HTX vào chuỗi giá trị nông sản trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.

Bích Hà
Tin đáng đọc