Hết tháng 4, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu nông lâm thủy sản đạt 21,1 tỷ USD
TH&SP Trong 4 tháng đầu năm, Trung Quốc vẫn là thị trường lớn nhất chiếm đến 23,4% thị phần; tiếp đến là Hoa Kỳ chiếm 23,33% thị phần.
Thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính từ đầu năm đến hết tháng 4, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng nông, lâm, thủy sản ước đạt gần 21,1 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu đạt 11,9 tỷ USD, giảm 4,9% so với cùng kỳ năm trước; nhập khẩu ước khoảng 9,17 tỷ USD, giảm 5,2%; xuất siêu gần 2,8 tỷ USD, giảm 4,1%.
Tính riêng xuất khẩu, hết tháng 4, nhóm nông sản chính ước đạt gần 5,8 tỷ USD, giảm 4,5%; lâm sản chính đạt 3,4 tỷ USD, tăng 3,9%; thủy sản ước đạt 2,2 tỷ USD, giảm 10,0%; chăn nuôi ước đạt 150 triệu USD, giảm 23,8%.
Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu đều giảm kim ngạch, nhiều nhất là cao su (31,1%), chè (14,1%). Một số mặt hàng như cà phê, hạt điều, rau, gỗ và sản phẩm gỗ, quế, mây tre... vẫn tăng nhẹ.
Về thị trường xuất khẩu, tính chung 4 tháng, Trung Quốc vẫn là thị trường chiếm thị phần lớn nhất với kim ngạch xuất khẩu đạt gần 2,8 tỷ USD, chiếm 23,4% thị phần; tiếp đến là Hoa Kỳ ước đạt 2,78 tỷ USD chiếm 23,33% thị phần...
Về kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản ước khoảng 9,17 tỷ USD, giảm 5,2% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó, giá trị nhập khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản chính ước đạt 7,4 tỷ USD, giảm 9,1%.
Ngoại trừ các mặt hàng dầu mỡ động thực vật, lúa mì, cao su và chăn nuôi có giá trị nhập khẩu tăng, các mặt hàng khác đều giảm so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó, phân bón giảm tới 21,0%; thuốc trừ sâu giảm 18,3%, thức ăn gia súc và nguyên liệu giảm 19,7%; ngô giảm 33,1%; hạt điều giảm 13,9%; rau quả giảm 42,3%; gỗ và sản phẩm gỗ giảm 1,3%; thủy sản giảm 2,9%.

Ảnh minh họa
Thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn sẽ phối hợp chặt chẽ với Bộ Công Thương, các cơ quan, doanh nghiệp theo dõi sát sao diễn biến giá cả, cung cầu các mặt hàng nông sản thiết yếu trong nước (lúa gạo, thịt lợn, rau quả, thủy sản, đường, muối) để cân đối cung cầu, đảm bảo an ninh lương thực trong nước và duy trì xuất khẩu nông sản; nâng cao chất lượng dự báo thị trường và kịp thời thông tin tới các địa phương, doanh nghiệp để có kế hoạch sản xuất, kinh doanh phù hợp.
Bộ cũng thường xuyên cập nhật diễn biến, tình hình tại các thị trường trọng điểm bị ảnh hưởng bởi dịch, kịp thời tham mưu, báo cáo, đề xuất giải pháp ứng phó. Theo dõi sát tình hình xuất khẩu nông sản qua các cửa khẩu biên giới với Trung Quốc; làm việc với phía bạn để xác định cụ thể các biện pháp bảo đảm thông quan hàng hóa, kiểm soát tốt dịch bệnh; thúc đẩy tái cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu theo hướng bền vững.
Xây dựng các phương án, kịch bản xuất khẩu nông sản đáp ứng nhu cầu tăng cao khi Trung Quốc hết dịch. Tập trung giải quyết các rào cản kỹ thuật, đàm phán mở rộng thị trường (mở rộng công nhận vùng sản xuất, loại sản phẩm, doanh nghiệp xuất khẩu) sang các nước EU, Liên minh kinh tế Á – Âu, Hoa Kỳ, Brazil… và xuất khẩu thủy sản sang thị trường Ả rập Xê út;
Cùng với đó, xây dựng chương trình đoàn công tác Bộ làm việc tại Trung Quốc, Liên bang Nga, Nhật Bản, Úc. Tiếp tục triển khai đăng ký nhãn hiệu gạo Việt Nam; cập nhật thông tin về tình hình xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa sang Trung Quốc; chuẩn bị tổ chức Hội nghị họp nhóm công tác ASEAN về sắn. Tiếp tục tổng hợp các thông báo và cảnh báo từ các đối tác thương mại và các nước thành viên WTO, phối hợp với các đơn vị liên quan trong mạng lưới phản hồi các góp ý đối với dự thảo biện pháp SPS mới của Việt Nam đã thông báo với WTO.
Hà An







