Công việc chăm sóc không lương cản trở phụ nữ dân tộc thiểu số tham gia lao động
Theo số liệu nghiên cứu, phụ nữ dân tộc thiểu số dành khoảng 20,1 giờ mỗi tuần trong đó một người phụ nữ dành khoảng 5 giờ/ngày cho các công việc chăm sóc không lương, nhiều hơn nam giới 2,1 giờ. Điều này đã gây cản trở người dân tộc thiểu số số tham gia vào thị trường lao động.
Thông tin trên được đưa ra tại hội thảo ngày 12/07, tại Hà Nội, do Trung tâm Phân tích và Dự báo - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (CAF), Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và tổ chức CARE Quốc tế tại Việt Nam phối hợp tổ chức.
Theo Tổ chức về Bình đẳng giới và Trao quyền cho Phụ nữ (UN Women) và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa công việc chăm sóc không lương (CVCSKL) bao gồm: CVCSKL gián tiếp như việc nhà, nấu nướng và chuẩn bị thức ăn, dọn dẹp, giặt giũ quần áo, lấy nước và chất đốt; và CVCSKL trực tiếp như chăm sóc trẻ em, người lớn tuổi và người khuyết tật.
![]() |
| Toàn cảnh hội thảo |
Trên khắp thế giới, phụ nữ dành thời gian cho công việc chăm sóc không được trả lương nhiều hơn nam giới từ hai đến mười lần. Sự phân bổ không đồng đều về trách nhiệm chăm sóc này có liên quan đến các thể chế xã hội còn định kiến về vai trò giới. Bên cạnh đó, những nguyên nhân khác dẫn đến gánh nặng công việc chăm sóc không lương bao gồm các công trình hạ tầng chưa đề cao tính nhạy cảm về giới hay thiếu dịch vụ chăm sóc có chất lượng.
Tại Việt Nam, gánh nặng CVCSKL nặng nề và bất bình đẳng đối với phụ nữ đã cản trở nhiều phụ nữ trong độ tuổi lao động có được việc làm được trả lương và việc làm bền vững. Khi dân số Việt Nam già hóa, gánh nặng chăm sóc người cao tuổi không được trả công tăng lên, ảnh hưởng rất lớn đến phụ nữ.
Trong khi đó, tình trạng già hóa dân số đòi hỏi phải tăng cường sự tham gia thị trường lao động của lao động nữ, gồm cả tăng số giờ làm việc và năng suất, để Việt Nam có thể tăng đáng kể GDP bình quân đầu người và đạt được tham vọng trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao vào năm 2025 và thu nhập cao vào năm 2045.
Phát biểu tại hội thảo, bà Lê Kim Dung, Giám đốc Quốc gia tổ chức CARE Quốc tế tại Việt Nam cho biết: “Bất bình đẳng giới trong công việc chăm sóc không được trả lương là một trong những yếu tố gây ra khoảng cách giới trong kết quả lao động, chẳng hạn như tham gia lực lượng lao động, tiền lương và chất lượng công việc. Giải quyết các định kiến và chuẩn mực giới là bước đầu tiên trong việc phân bổ lại trách nhiệm chăm sóc và nội trợ giữa phụ nữ và nam giới, để từ đó, người phụ nữ có thể tham gia công bằng vào thị trường lao động, tạo thu nhập cho bản thân, gia đình và nâng cao vị thế, tiếng nói của họ trong các quyết định liên quan.”
Hiện nay, phụ nữ hầu như là người chăm sóc chính trong nhà. So với các nhóm CVCSKL khác nhau, phụ nữ đặc biệt chiếm tỷ lệ cao hơn nhiều so với nam giới gánh trách nhiệm việc nhà thường nhật. Khoảng cách giới trong việc nhà thường nhật là 15,5 điểm phần trăm, chênh lệch giữa 93,2% phụ nữ so với 77,8% nam giới làm việc nhà. Trong khi đó, khoảng cách giới trong việc chăm sóc con cái chỉ là 6,2 điểm phần trăm (59,4% phụ nữ so với 53,2% nam giới).
Mỗi tuần, thời gian phụ nữ dành để làm CVCSKL nhiều hơn 8,3 giờ so với nam giới, sau khi đã kiểm soát các đặc điểm như độ tuổi, tình trạng hôn nhân, dân tộc, học vấn, khu vực thành thị/nông thôn, vùng, ngành kinh tế, việc làm chính thức/phi chính thức, và thu nhập của người lao động được trả công. Khoảng cách giới lớn nhất được phát hiện trong thời gian làm việc nhà thường nhật, tiếp đến là thời gian chăm sóc trẻ em, trong khi khoảng cách nhỏ nhất là với các công việc chăm sóc sức khỏe thành viên gia đình.
Thời gian phụ nữ dành cho việc làm có trả lương thấp hơn đáng kể so với nam giới. Thời gian phụ nữ dành cho công việc có trả lương chỉ bằng 76,3% số thời gian nam giới dành cho công việc có trả lương.
Bên cạnh đó, việc sử dụng dịch vụ chăm sóc trẻ em hiện có của các hộ có con em dưới 6 tuổi còn hạn chế. Cứ 10 hộ đồng bào dân tộc thiểu số có trẻ dưới 6 tuổi thì chỉ 3 hộ cho biết họ có gửi trẻ đến các cơ sở trông trẻ mặc dù độ sẵn có dịch vụ ở một tỷ lệ cao hơn đáng kể. Hiện dịch vụ nhà dưỡng lão cho người già, cơ sở dành cho người khuyết tật, và giới thiệu việc làm cho phụ nữ tại các vùng DTTS vẫn còn rất ít. Dịch vụ giới thiệu việc làm và đào tạo nghề cũng có tỷ lệ sử dụng thấp hơn nhiều so với mức độ sẵn có của dịch vụ.
![]() |
|
Mỗi ngày một phụ nữ DTTS dành khoảng 5 giờ cho các CVCSKL, nhiều hơn nam giới 2,1 giờ. |
Theo nghiên cứu mới nhất về CVCSKL trong các cộng đồng dân tộc thiểu số tại 2 tỉnh Hà Giang và Lai Châu, trung bình mỗi ngày một phụ nữ DTTS dành khoảng 5 giờ cho các CVCSKL, nhiều hơn nam giới 2,1 giờ. CVCSKL mất nhiều thời gian của phụ nữ DTTS nhất bao gồm các CVCSKL trực tiếp như chăm sóc trẻ em, người già, người ốm, người khuyết tật (30,3% tổng thời gian dành cho CVCSKL), và các công việc chăm sóc gián tiếp như nấu nướng và dọn dẹp sau bữa ăn (19,1%) và đi lấy củi (13,2%).
Chỉ tính giá trị kinh tế của CVCSKL, trung bình một phụ nữ DTTS đóng góp khoảng 2,7 triệu đồng vào thu nhập hàng tháng của hộ gia đình, tương ứng khoảng 52,4% tổng thu nhập của hộ. Đối với một hộ gia đình DTTS, chi phí thay thế cho hoạt động CSKL trực tiếp, đặc biệt là chăm sóc trẻ em khá lớn, chi phí này có thể bằng khoảng 1/4 tổng thu nhập trung bình của hộ.
Chia sẻ tại hội thảo, bà Trần Thị Bích Loan, Vụ phó Vụ Bình đẳng giới, Bộ Lao động - thương binh và xã hội cho biết, để thu hẹp khoảng cách giới hàng năm Bộ Lao động - thương binh và xã hội đều tổ chức các lớp tập huấn bình đẳng giới nhưng gặp nhiều khó khăn. Rào cản từ phía xã hội, rào cản dẫn tới nhận thức của người phụ nữ đó là trọng trách của mình. Chính vì đó, việc truyền thông nâng cao nhận thức vô cùng quan trọng. Cách thức truyền thông cũng cần phải thay đổi cơ bản, truyền thông không chỉ để nói cho phụ nữ,…phải xóa bỏ định kiến chỉ nam giới mới là trụ cột gia đình, nữ giới làm công việc nội trợ, cả nam giới và nữ giới đề có thể là trụ cột gia đình đều có thể đảm nhiệm vai trò chăm sóc các thành viên trong đình để chia sẻ về mặt kinh tế, tinh thần.
Để giảm tải gánh nặng công việc không lương và nâng cao quyền kinh tế cho phụ nữ DTTS, nhiều khuyến nghị được đưa ra tại hội thảo như: cần thay thế các thiết bị gia dụng hỗ trợ CVCSKL giúp giảm đáng kể thời gian làm CVCSKL của phụ nữ vùng DTTS. Các dự án phát triển ưu tiên hỗ trợ tiếp cận hoặc cải tiến các thiết bị gia dụng gia đình giúp giảm thời gian và công sức dành cho CVCSKL…
Nhà nước cần giảm tải trách nhiệm CVCSKL cho hộ gia đình bằng cách đầu tư thỏa đáng vào cơ sở hạ tầng và những dịch vụ xã hội, từ đó giảm đáng kể gánh nặng của phụ nữ. Chương trình MTQG DTTS-MN cần ưu tiên đầu tư các công trình CSHT có trách nhiệm giới, đáp ứng cho nhu cầu giảm thời gian thực hiện CVCSKL…
Bên cạnh đó, việc tái phân bổ CVCSKL giữa các thành viên gia đình có thể thực hiện được thông qua việc thay đổi các định kiến xã hội liên quan tới phân công lao động giữa nam giới và nữ giới. Rất cần các chiến lược truyền thông nhằm thay đổi định kiến giới hiện còn tồn tại ở các vùng DTTS.








