Bốn di vật có giá trị về lịch sử trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

Chuyển động Doanh nghiệp 05/02/2022 01:31

Vĩnh Phúc là vùng đất tiếp giáp với ba trung tâm lớn của nước Việt thời cổ đại, đó là kinh đô Văn Lang thời Hùng Vương, kinh đô Cổ Loa thời An Dương Vương và kinh đô Thăng Long của nhà Lý. Nói đến vùng đất này là nói đến văn hiến, bởi người dân nơi đây luôn cần cù, thông minh, sáng tạo ra nhiều giá trị mang tính chất lịch sử.

Vĩnh Phúc: Tổ chức nhiều hoạt động đặc sắc mừng Đảng, mừng Xuân dịp Tết Nhâm Dần 2022 Vĩnh Phúc công nhận thêm 21 sản phẩm OCOP cấp tỉnh năm 2021 Vĩnh Phúc có 40 sản phẩm được đánh giá, xếp hạng OCOP

Dưới đây là bốn di vật có giá trị về lịch sử trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc:

1. Tấm bia thời Lý tại chùa Báo Ân

Di vật thứ nhất là tấm bia thời Lý đặt tại chùa Báo Ân, nay thuộc phường Tháp Miếu, thành phố Phúc Yên. Thời Lý là giai đoạn mà Phật giáo được coi là hệ tư tưởng chính thống của vương triều. Các vua triều Lý, từ Lý Thái Tổ (1010-1028), đến Lý Chiêu Hoàng (1224-1225) đều tôn sùng đạo Phật. Việc xây dựng chùa ở thời Lý không những không bị cấm hãn mà còn được khuyến khích nhằm hoằng dương Phật pháp.

Tuy nhiên, ở thời kỳ này, chỉ triều đình và những vị có thế lực lớn trong xã hội đương thời mới đủ tiềm lực kinh tế để xây dựng chùa. Chùa Báo Ân nói đến ở trên là một trong những ngôi chùa như vậy. Sở dĩ biết điều này là căn cứ vào văn bia có tiêu Báo Ân thiền tự bi ký (Bài ký ghi việc xây dựng chùa Báo Ân).

Đây là tấm bia tạo vào niên hiệu Trị Bình Long Ứng thứ 5 (1210) nhưng do bào mòn của thời gian, nên bia được khắc lại vào khoảng thời Lê Trung hưng. Bia cao 130 cm, rộng 78 cm, khắc chữ ở mặt trước và mặt sau, cho biết tín chủ họ Nguyễn, xuất thân trong gia đình vọng tộc nhưng tôn sùng Phật giáo, tự nguyện xuất gia tài 2000 quan tiền để xây dựng chùa, đồng thời cúng 126 mẫu ruộng vào chùa. Ông lại lập ra “Hội Thích giáo thiền” cho chùa Báo Ân. Trong bia còn bảo lưu một số chữ Nôm được giới nghiên cứu dẫn dùng trong các công trình nghiên cứu. Đây là một trong 19 văn bia thời Lý còn lại đến nay ở nước ta.

Tấm bia thời Lý tại chùa Báo Ân

2. Tấm bia thời Lê sơ ở khu danh thắng Tây Thiên

Di vật thứ hai là tấm bia thời Lê sơ ở khu danh thắng Tây Thiên, xã Đại Đình, huyện Tam Đảo. Núi Tam Đảo, một danh sơn của nước Việt, nơi vào cuối thế kỷ XVIII, ngoài những tư liệu của Lê Quý Đôn (1727-1784) viết về núi này, còn có văn bia mô tả về núi Tam Đảo, với phong cảnh “mây trắng đê mê trên đỉnh núi”. Trước đó, vào thời Lê sơ (1428-1527), trong thập niên 50 của thế kỷ XV, vua Lê Nhân Tông (1443-1459) cử Lê Khắc Phục, một công thần trong triều lên núi Tam Đảo làm lễ tế thần núi.

Sự kiện này khắc trực tiếp vào vòm một tấm bia đá, gọi là bia ma nhai. Bia có màu ngà, chiều dài khoảng 5 mét, chiều cao khoảng 3 mét. Cạnh đó là suối “ Bát Nhã” nước trong vắt, quanh năm chảy rì rầm. Nội dung văn bia cho biết: “ Ngày mồng 10, tháng 5, năm Canh Ngọ, niên hiệu Thái Hòa thứ 8 (1450), đời vua thứ 3 triều Lê, nhân chọn được thời, [tôi] phụng mệnh vua lên tế thần núi Tam Đảo, mới trèo khắp các núi, thăm trải các nơi cổ tích, rộng ngắm sườn núi quanh co, cao chót vót xanh rờn, tựa như bức bình phong trùng điệp, quây quần hội tụ, đối diện với núi Tản Viên đứng một mình.

Ta rất cảm kích, thực là nơi hùng trấn của nước Nam, rồi sai người khắc vào đá để ghi ngày tháng từng đến đây”. Văn bia cho thấy, vào thời Lê sơ, khu danh thắng Tây Thiên trên địa bàn Vĩnh Phúc đã được triều Lê sơ quan tâm, bằng cách cử đại thần về tế lễ thần núi Tam Đảo. Văn bia này là một trong 78 văn bia thời Lê sơ còn lại đến nay ở nước ta.

3. Văn bia học điền cấp tổng của tổng Sơn Bình

Di vật thứ ba là văn bia học điền cấp tổng của tổng Sơn Bình, nay thuộc địa bàn huyện Lập Thạch. Vào thời Tây Sơn (1788-1802), triều đình đặt chức Tổng giáo để chăm lo vấn đề giáo dục tại địa phương. Đến thời Nguyễn (1802-1945), nhà nước mới có điều kiện để triển khai công việc, cho phép mỗi tổng ở vùng đồng bằng Bắc Bộ dựng một trường học cấp tổng, mọi chi phí đều dựa vào ruộng học, gọi là học điền, do người dân trong tổng đóng góp.

Tuy nhiên, cho đến nay, giới nghiên cứu mới phát hiện một văn bia đề cập đến vấn đề này, chính là văn bia học điền của tổng Sơn Bình, huyện Lập Thạch. Bia có tên gọi là Lập Thạch Sơn Bình tổng học điền (Văn bia ghi học điền của tổng Sơn Bình huyện Lập Thạch), kích cỡ cao 45 cm, rộng 32 cm. Văn bia do Nguyễn Hữu Tạo, người xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, đỗ Tiến sĩ năm 1844, soạn vào năm năm 1854 cho biết các xã Sơn Bình, Phan Lang, Hạ Phan, Lai Châu, Triệu Xá và Chu Đề của tổng Sơn Bình cùng góp ruộng với số lượng 16 mẫu làm lương nuôi thầy giáo. Văn bia này giúp giới nghiên cứu tìm hiểu về học điền cấp tổng ở nước ta được thuận lợi.

4. Văn bia ghi đặt ruộng đất và xây dựng trường học dân lập

Di vật thứ tư là văn bia ghi đặt ruộng đất và xây dựng trường học dân lập ở xã Văn Trưng, nay là thị trấn Tứ Trưng, huyện Vĩnh Tường. Bia cao 123 cm, rộng 77 cm, dựng vào năm 1702, thuộc loại sớm nhất trong toàn bộ số văn bia học điền có tại nước ta trước đây.

Quan điểm về giáo dục ghi trong bia rất tiến bộ “ Trường học là để bồi dưỡng, giáo dục nhân tài, học điền là để ngụ ý tôn sùng đạo làm thầy, bởi người không học thì không biết lấy gì để mở mang thông minh mà làm phương tiến bước”. Sau đó văn bia cho biết hai xã Văn Trưng và Lăng Trưng huyện Bạch Hạc là nơi văn vật, sinh ra nhiều nhân tài cho đất nước.

Song trường học của làng chưa dựng, do vậy 45 cặp vợ chồng ở hai xã không hẹp hòi gia sản, cùng nhau đóng góp ruộng đất, tổng cộng được 4 mẫu 7 sào 5 thước, trong đó trích 3 sào đất để xây ngôi trường chung cho hai xã, số còn lại đặt làm học điền. Với văn bia này khẳng định ngoài trường tư thục dành cho con em khá giả trong làng thì còn có trường dân lập dành cho con em nhà nghèo trong làng.

Chính điều này đã làm thay đổi quan điểm của một số nhà nghiên cứu trước đây khi cho rằng nước ta thời quân chủ chỉ có tư thục mà không có trường dân lập. Qua đây còn khẳng định trong quá khứ, người dân hai xã Lăng Trưng và Lăng Trưng trên địa bàn Vĩnh Phúc có cách làm sáng tạo, cùng liên kết để xây dựng một ngôi trường dân lập trong điều kiện đương thời chưa có nơi nào ở nước ta thực hiện.

Trải qua thời gian, bốn di vật này vẫn tồn tại đến nay. Đây không chỉ là di vật có giá trị về lịch sử của người dân Vĩnh Phúc mà còn mang tính đại diện cho người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ, nói rộng ra là của cả nước, một đất nước vẫn được coi là có bề dày văn hóa lâu đời.

Bình Yên
Tin đáng đọc