Hiểu đúng về mã số vùng trồng để xuất khẩu nông sản
Mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói được xem là tấm vé thông hành cho nông sản xuất khẩu, nhưng giá trị của mã số này phụ thuộc hoàn toàn vào cơ chế công nhận và thời gian phê duyệt của từng thị trường quốc gia nhập khẩu.
Cơ chế phê duyệt khắt khe từ các thị trường lớn
Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Huỳnh Tấn Đạt cho biết các thị trường như Trung Quốc, Mỹ, Malaysia, Đài Loan và Hàn Quốc đang áp dụng quy chế tự phê duyệt mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói đối với tất cả mặt hàng nông sản. Tại hội nghị triển khai Nghị quyết 36 của Chính phủ do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức ngày 4-8, ông Đạt nhấn mạnh rằng với các thị trường này, phía Việt Nam chỉ thực hiện rà soát, lập hồ sơ và gửi danh sách đề xuất. Quyết định phê duyệt hoàn toàn thuộc về nước nhập khẩu và thời gian chờ đợi cũng phụ thuộc hoàn toàn vào đối tác.
Điều này đồng nghĩa với việc nông sản và trái cây Việt Nam, bao gồm cả sầu riêng, chưa thể xuất khẩu sang Trung Quốc hay Mỹ nếu chưa được các nước này thông qua mã số. Để được phê duyệt nhanh chóng, chất lượng hồ sơ đăng ký là yếu tố tiên quyết. Các hình thức kiểm tra gồm có kiểm tra trực tiếp, trực tuyến hoặc yêu cầu cung cấp thông tin qua video, đòi hỏi người dân và doanh nghiệp phải chuẩn bị kỹ lưỡng dữ liệu đáp ứng yêu cầu kỹ thuật. Về phía cơ quan quản lý, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang thúc đẩy hợp tác kỹ thuật, dự kiến cử đoàn sang làm việc trực tiếp với Tổng cục Hải quan Trung Quốc vào nửa cuối tháng 8 để đẩy nhanh tiến độ phê duyệt mã số sầu riêng.
Bên cạnh đó, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp lưu ý rằng việc triển khai mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói theo nghị quyết không chỉ áp dụng riêng cho sầu riêng hay hàng xuất khẩu, mà hướng tới toàn bộ cây trồng nhằm mục tiêu truy xuất nguồn gốc và phát triển nền sản xuất xanh, sạch, minh bạch. Các địa phương cần khuyến khích thành lập các tổ hợp tác và hợp tác xã để hình thành vùng trồng quy mô lớn. Đối với việc thực hiện Nghị quyết 36, các tỉnh thành cần đẩy mạnh tuyên truyền, thống nhất hành động, thành lập ban chỉ đạo hoặc triển khai chiến dịch 30 ngày đêm tại những địa bàn trọng điểm để hỗ trợ tối đa cho người dân và doanh nghiệp.
Đổi mới thủ tục hành chính toàn trình trên môi trường số
Quy trình cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói hiện đã được số hóa toàn trình nhằm đơn giản hóa tối đa thủ tục hành chính cho người dân. Theo ông Nguyễn Thanh Tùng từ Cục Chuyển đổi số, hồ sơ được phân tách ngay từ đầu theo đúng mục đích sử dụng và yêu cầu của từng trường hợp thay vì áp dụng một quy trình chung. Người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chỉ cần thực hiện thủ tục trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia bằng tài khoản VNeID và hệ thống sẽ tự động chuyển hồ sơ đến đúng cơ quan chuyên môn cấp xã để xử lý.
Các nhóm thủ tục được thiết kế riêng biệt bao gồm cấp mới, cấp lại và bổ sung thị trường xuất khẩu, qua đó phản ánh sự khác biệt rõ rệt giữa sản xuất tiêu thụ trong nước và phục vụ xuất khẩu. Thời hạn giải quyết đối với hồ sơ trong nước được rút ngắn còn 3 ngày làm việc cho cấp mới và 2 ngày cho cấp lại. Trong khi đó, hồ sơ phục vụ xuất khẩu có thời hạn 10 ngày để hoàn tất các bước thẩm định, đánh giá thực địa và kiểm tra điều kiện khắt khe từ thị trường nước ngoài.
Một điểm lưu ý quan trọng trong quy trình mới là người nộp hồ sơ xuất khẩu bắt buộc phải khai báo thị trường đích ngay trong đơn đăng ký. Quy định này giúp cơ quan chuyên môn áp dụng chính xác các tiêu chí kỹ thuật và cơ chế công nhận tương ứng với từng quốc gia. Việc làm rõ cơ chế quản lý số hóa không chỉ giúp doanh nghiệp chủ động kế hoạch sản xuất mà còn nâng cao trách nhiệm của người sản xuất trong việc duy trì nghiêm ngặt các điều kiện kỹ thuật để bảo vệ uy tín cho nông sản Việt trên trường quốc tế.





