Hạt muối Bạc Liêu: Kết tinh trăm năm văn hóa và sức sống của diêm dân

Diễn biến - Dự báo 20/08/2026 23:37

Hơn một thế kỷ gắn bó với vùng đất ven biển, nghề làm muối Bạc Liêu không chỉ tạo ra sản phẩm mang hương vị đặc trưng mà còn lưu giữ những giá trị lịch sử, văn hóa và cộng đồng được trao truyền qua nhiều thế hệ. Từ một nghề mưu sinh, nghề muối đã trở thành biểu tượng của sự cần cù, sáng tạo và được ghi danh vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2020.

Nghề làm muối ở Bạc Liêu có lịch sử lâu đời, gắn với quá trình khai phá và định cư của cư dân vùng đất Nam Bộ. Qua nhiều thế hệ, diêm dân nơi đây đã hình thành những phương thức sản xuất phù hợp với điều kiện tự nhiên, tạo nên hạt muối có đặc trưng riêng, trong đó nổi bật là vị “hậu ngọt”.

Long Điền là vùng sản xuất muối nổi tiếng và có diện tích lớn của Bạc Liêu. Dấu ấn của nghề muối còn hiện diện qua những địa danh gắn với hoạt động sản xuất, vận chuyển và tiêu thụ muối trước đây như Tu Muối - những nhà kho chứa muối kéo dài gần một cây số dọc bờ sông Bạc Liêu - hay kinh Dòng Me, tuyến vận chuyển muối từ vùng ven biển vào nội thành, sau đó theo ghe đến thương cảng tại Sài Gòn hoặc ngược sông Hậu sang Campuchia.

canhdongmuoibaclieu_1787196008.jpg
Hạt muối Bạc Liêu: Kết tinh trăm năm văn hóa và sức sống của diêm dân

Điều kiện tự nhiên thuận lợi đã góp phần tạo nên đặc trưng của muối Bạc Liêu. Địa hình ven biển bằng phẳng, thấp, không có núi đá vôi ven biển, thuận lợi cho việc đưa nước biển vào hệ thống kênh mương và trảng chứa. Khí hậu nhiều nắng giúp nước bốc hơi nhanh, trong khi đất mặn có hàm lượng sét cao giúp hạn chế thất thoát nước biển.

Độ mặn của nước biển, chế độ bán thủy triều cùng hệ thống sông ngòi dày đặc và các cửa sông Gành Hào, Chùa Phật, Cái Cùng cũng tạo điều kiện thuận lợi để dẫn nước biển vào ruộng muối. Những yếu tố này kết hợp với kinh nghiệm sản xuất được tích lũy qua nhiều thế hệ đã tạo nên chất lượng đặc trưng của hạt muối Bạc Liêu.

Với lịch sử hơn 100 năm, muối Bạc Liêu từng được biết đến với tên gọi muối Ba Thắc. “Ba Thắc” là cách gọi cổ chỉ vùng đất phía Nam sông Hậu, gắn với quá trình khai phá phương Nam và cuộc sống của các thế hệ cư dân vùng đất này.

Nghề muối vì thế không chỉ là câu chuyện sản xuất một mặt hàng nông nghiệp mà còn phản ánh quá trình con người chinh phục thiên nhiên, tổ chức cuộc sống và xây dựng cộng đồng. Hình ảnh ruộng muối, người diêm dân và hạt muối cũng trở thành chất liệu trong văn học dân gian và các tác phẩm nghệ thuật địa phương.

Trải qua thời gian, nghề làm muối Bạc Liêu hình thành những giá trị đan xen về kinh tế, xã hội và văn hóa. Những giá trị ấy được duy trì thông qua phương thức sản xuất, công cụ lao động, phong tục, tín ngưỡng và kinh nghiệm nghề nghiệp được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Vụ muối của diêm dân Bạc Liêu thường diễn ra trong khoảng 5 tháng, bắt đầu từ đầu tháng 11, khi thời tiết bước vào mùa khô và có nhiều nắng. Trước khi sản xuất, người làm muối phải cải tạo mặt ruộng, làm sạch cỏ rác, mùn và các chất bẩn, sau đó san phẳng và dầm nền.

Nền ruộng được gia cố bằng đất sét pha cát biển kết hợp với nước chạt - nước biển đã được lọc tạp chất và có độ mặn cao hơn nước biển thông thường. Nồng độ nước chạt được tăng dần trong quá trình xử lý để tạo mặt nền bằng phẳng, hạn chế thẩm thấu và nâng cao hiệu quả kết tinh.

Một ruộng muối truyền thống thường bao gồm trảng chứa nước, các ô làm tăng độ mặn và sân kết tinh. Với những khu vực sản xuất muối sạch hơn, diêm dân có thể bố trí thêm ao lắng trước khi đưa nước vào sân kết tinh. Diện tích các khu vực được phân chia theo tỷ lệ phù hợp để bảo đảm nguồn nước có độ mặn cần thiết và duy trì quá trình kết tinh liên tục.

Quy trình sản xuất truyền thống gồm bốn công đoạn chính: lấy nước, chứa nước, phơi nước và phơi kết tinh. Trong công đoạn kết tinh, diêm dân có thể phơi trực tiếp trên nền ruộng hoặc sử dụng bạt nhựa. Phương pháp kết tinh trên ruộng theo cách truyền thống thường mất khoảng 10-15 ngày. Trong khi đó, việc sử dụng bạt nhựa giúp rút ngắn thời gian kết tinh xuống còn khoảng 7-9 ngày, đồng thời tạo ra hạt muối trắng và sáng hơn, giảm tạp chất, độ ẩm thấp, năng suất cao và giá trị thương phẩm tốt hơn.

Sau khi muối kết tinh, diêm dân tiến hành thu gom, đưa lên bờ và che phủ bằng nylon hoặc lá dừa. Muối được bảo quản tại những nơi sạch, khô ráo, có hệ thống thoát nước và tránh xa hóa chất hoặc các loại hàng hóa có thể ảnh hưởng đến chất lượng.

Nghề muối truyền thống cũng gắn với hệ thống công cụ lao động đặc trưng như cuốc, mai, trục lăn đất, bàn dẹt đập bờ, xẻng xúc muối, chang gom muối, rổ xúc muối, xe chở muối, cầu đẩy xe muối và lu chứa muối. Cùng với sự phát triển của kỹ thuật, nghề muối Bạc Liêu đang từng bước được cơ giới hóa. Máy bơm dần thay thế phương thức tát nước thủ công, xe lăn được sử dụng thay cho trục lăn. Những cải tiến này góp phần giảm sức lao động, nâng cao năng suất, tăng sản lượng và cải thiện chất lượng sản phẩm nhưng vẫn giữ lại những nét cơ bản của nghề truyền thống.

Không chỉ có giá trị trong sản xuất, nghề muối Bạc Liêu còn lưu giữ nhiều phong tục và tín ngưỡng của cộng đồng diêm dân. Vào những dịp giao mùa hoặc các lễ cúng đình, người dân thường tổ chức nghi lễ cúng trời đất, thần linh, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa vụ thuận lợi.

Trong quá trình sản xuất, một số ngày như mùng 5, 14 và 23 cũng được xem là ngày kiêng kỵ đối với việc bắt đầu công việc hoặc đi lại. Khi đưa nước ót vào sân kết tinh, diêm dân còn thực hiện nghi lễ với những lễ vật đơn giản để cầu mong thời tiết thuận lợi và mùa muối bội thu. Muối Bạc Liêu được biết đến với ba loại chính gồm muối bạc, muối trắng và muối đen. Đặc điểm được người dân địa phương nhắc đến là hạt muối không có vị đắng, chát như một số vùng biển khác mà có vị “hậu ngọt” đặc trưng.

Những đặc điểm đó cho thấy sản phẩm của nghề muối không đơn thuần là một loại hàng hóa. Hạt muối còn chứa đựng tri thức dân gian, kinh nghiệm sản xuất, phong tục, tín ngưỡng và sự thích ứng của con người với điều kiện tự nhiên.

Nghề làm muối cũng tạo việc làm và thu nhập cho người dân, góp phần phát triển kinh tế hộ gia đình và địa phương. Quá trình sản xuất đòi hỏi sự phối hợp giữa các thành viên trong cộng đồng, qua đó hình thành sự gắn kết, tinh thần trách nhiệm và ý thức gìn giữ nghề truyền thống.

Đặc biệt, nghề muối góp phần giáo dục các thế hệ về tinh thần lao động cần cù, sự sáng tạo, ý thức quý trọng thời gian và trách nhiệm bảo tồn những giá trị do cha ông để lại. Với những giá trị về lịch sử, kỹ thuật nghề nghiệp, đời sống cộng đồng, phong tục và tín ngưỡng, nghề làm muối ở Bạc Liêu đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2020.

Từ những ruộng muối trải dài dưới nắng gió vùng ven biển, nghề truyền thống của diêm dân Bạc Liêu hôm nay không chỉ tiếp tục tạo ra những hạt muối mang dấu ấn riêng mà còn trở thành một phần ký ức và bản sắc văn hóa của vùng đất. Việc gìn giữ nghề muối vì thế cũng chính là gìn giữ một phần lịch sử lao động, văn hóa và sức sống của cộng đồng cư dân Bạc Liêu qua nhiều thế hệ.

Diệp Chi