Gỡ điểm nghẽn nâng sức cạnh tranh nông sản Vĩnh Long
Nông nghiệp đang chuyển mạnh từ mục tiêu tăng sản lượng sang nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng. Để nông sản Vĩnh Long vươn xa bền vững trên thị trường quốc tế, việc tháo gỡ triệt để các điểm nghẽn về nguồn vốn, hạ tầng logistics và cơ chế chính sách là yêu cầu cấp thiết.
Nhận diện những rào cản giới hạn chuỗi giá trị
Tại hội nghị "Vĩnh Long - Chính sách tài chính thúc đẩy xuất khẩu nông sản bền vững", bức tranh toàn cảnh về kinh tế nông nghiệp địa phương đã được phác họa rõ nét. Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, trong sáu tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản cả nước ước đạt 35,88 tỷ USD. Toàn ngành xuất siêu khoảng 9,2 tỷ USD, khẳng định vững chắc vai trò trụ cột của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.
Hòa vào dòng chảy chung, Vĩnh Long cũng ghi nhận những tín hiệu tích cực khi tốc độ tăng trưởng kinh tế của địa phương đạt 6,41%. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tạo ra hơn 33.000 tỷ đồng giá trị tăng thêm. Kim ngạch xuất khẩu nông, thủy sản đạt gần 234 triệu USD, góp phần đưa tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1,92 tỷ USD. Hiện tại, các sản phẩm nông sản chủ lực của địa phương đã có mặt tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Ông Phạm Thu Phong, Tổng Biên tập Tạp chí Kinh tế - Tài chính nhận định, nông nghiệp Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới. Dù đạt nhiều thành tựu, nhưng trước những biến động nhanh của thị trường quốc tế cùng yêu cầu ngày càng khắt khe về an toàn thực phẩm, giảm phát thải và trách nhiệm môi trường, các chính sách hỗ trợ cần tiếp tục được rà soát, điều chỉnh sát với thực tiễn nhằm cải thiện môi trường đầu tư.
Tuy nhiên, đằng sau sự tăng trưởng, sức cạnh tranh của nông sản Vĩnh Long vẫn chưa thực sự bền vững. Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, Vĩnh Long có không gian phát triển rộng lớn với lợi thế kết nối vùng phù sa sông Tiền, sông Hậu và hành lang kinh tế ven biển. Dẫu vậy, toàn tỉnh hiện có khoảng 13.000 doanh nghiệp, trong đó chỉ hơn 450 doanh nghiệp kinh doanh, chế biến nông sản. Phần lớn các đơn vị này có quy mô nhỏ và vừa, năng lực tài chính còn nhiều hạn chế.
Phân tích các điểm nghẽn cần tháo gỡ, ông Trần Quốc Tuấn, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Vĩnh Long thẳng thắn chỉ ra bài toán về vốn trung và dài hạn. Các doanh nghiệp cần nguồn lực lớn để đầu tư vùng nguyên liệu, kho lạnh, dây chuyền chế biến nhưng chủ yếu chỉ tiếp cận được vốn vay ngắn hạn do yêu cầu tài sản thế chấp khắt khe. Chuỗi giá trị nông sản cũng đang thiếu liên kết về mặt tài chính, khi chính sách hỗ trợ còn phân tán, rời rạc theo từng khâu thay vì đồng bộ cho trọn vẹn một quy trình xuất khẩu.
Hơn thế nữa, hạ tầng logistics chưa theo kịp tốc độ phát triển. Địa phương vẫn thiếu vắng các trung tâm logistics chuyên ngành, kho lạnh quy mô vùng, làm gia tăng đáng kể chi phí sau thu hoạch. Áp lực từ các tiêu chuẩn xanh của thị trường nhập khẩu như kiểm kê phát thải, chuyển đổi năng lượng hay truy xuất nguồn gốc số đang trở thành rào cản lớn đối với các doanh nghiệp nhỏ nếu thiếu hụt dòng vốn tín dụng xanh.
Hoàn thiện chính sách khơi thông nguồn lực đầu tư
Để hiện thực hóa mục tiêu đưa Vĩnh Long trở thành tỉnh phát triển khá trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2026 - 2027, việc kiến tạo một bệ phóng chính sách vững chắc là điều kiện tiên quyết. Ngành nông nghiệp địa phương đang được tái cơ cấu mạnh mẽ theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển kinh tế xanh và xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung gắn liền với công nghiệp chế biến sâu.
Về định hướng tháo gỡ khó khăn, ông Nguyễn Trúc Sơn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long khẳng định, việc phát huy nội lực của cộng đồng doanh nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm. Tỉnh cam kết phối hợp chặt chẽ với các tổ chức tín dụng để thiết kế những gói vốn ưu tiên cho doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu, đổi mới công nghệ và chuyển đổi xanh. Cùng với đó, địa phương sẽ đẩy mạnh liên kết giữa vùng nguyên liệu, hợp tác xã và doanh nghiệp nhằm đáp ứng đúng nhu cầu của từng thị trường quốc tế.
Nhằm giải quyết triệt để nút thắt tài chính, Vĩnh Long đề xuất Trung ương sớm ban hành nghị định thay thế Nghị định số 57/2018/NĐ-CP theo hướng số hóa, đơn giản hóa thủ tục theo cơ chế một đầu mối và bảo đảm nguồn ngân sách ổn định. Các tiêu chí tín dụng xanh cần được xây dựng tinh gọn, cụ thể hóa cơ chế hỗ trợ lãi suất đối với các chuỗi nông nghiệp xanh, mở rộng cơ chế cho vay dựa trên hợp đồng bao tiêu, dòng tiền và dữ liệu vùng trồng thay vì quá phụ thuộc vào tài sản thế chấp.
Song song với đó, việc hoàn thiện các công cụ thuế như rút ngắn thời gian hoàn thuế giá trị gia tăng, áp dụng cơ chế khấu hao nhanh sẽ là đòn bẩy lớn khuyến khích đầu tư dây chuyền tiết kiệm năng lượng. Tỉnh cũng kiến nghị ưu tiên vốn đầu tư công và đẩy mạnh hợp tác công - tư phát triển mạng lưới logistics, kho ngoại quan, trung tâm kiểm định, trong đó ngân sách nhà nước đóng vai trò vốn mồi thu hút hiệu quả nguồn lực xã hội.
Một điểm nhấn mang tính đột phá là đề xuất thí điểm hệ sinh thái tài chính cho xuất khẩu nông sản bền vững giai đoạn 2026 - 2030. Mô hình này tập trung vào ba chuỗi ngành hàng chủ lực gồm dừa gắn với kinh tế tuần hoàn, lúa gạo phát thải thấp và thủy sản công nghệ cao kết hợp cây ăn trái. Hệ sinh thái sẽ vận hành dựa trên nguyên tắc chia sẻ rủi ro đồng bộ giữa nhà nước, ngân hàng, quỹ bảo lãnh, doanh nghiệp dẫn dắt và người nông dân.
Với tỷ lệ cơ giới hóa trong bảo quản, chế biến đạt mức 80% cùng thành công bước đầu từ việc vượt chỉ tiêu 8.224 héc ta diện tích tham gia Đề án lúa chất lượng cao, nền tảng cơ sở đã được thiết lập vững vàng. Sự đồng hành quyết liệt của cơ chế tài chính sẽ là chiếc chìa khóa vàng giúp chuỗi giá trị nông sản nâng tầm thương hiệu, tự tin khẳng định vị thế trên bản đồ thương mại toàn cầu.






