Đổi cách làm để nâng giá trị hạt cà phê Gia Lai
Không chỉ đầu tư giống mới, nhiều nông hộ ở Gia Lai còn thay đổi quy trình canh tác và tham gia liên kết với doanh nghiệp. Cách làm này đang mở ra hướng phát triển bền vững cho ngành cà phê.
Từ giống tốt đến vườn cây khỏe
Đầu mùa tái canh, vườn ươm của Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Nghĩa Hòa (xã Chư Păh) luôn tấp nập người đến mua cây giống. Năm nay, đơn vị ươm hơn 400.000 cây cà phê, tăng khoảng 100.000 cây so với năm trước. Nhu cầu tái canh và trồng dặm đang tăng rõ rệt.
Ông Nguyễn Thế Minh-Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Nghĩa Hòa cho biết, đơn vị không chạy theo số lượng mà ưu tiên chất lượng và nguồn gốc của cây giống. Phần lớn hạt giống của đơn vị được lấy từ Viện Khoa học kỹ thuật Nông-Lâm nghiệp Tây Nguyên, chủ yếu là các giống TRF1 và TR4. Đây là những giống có khả năng sinh trưởng tốt, chịu hạn khá và kháng một số loại sâu bệnh. Nếu chăm sóc đúng quy trình, năng suất cà phê có thể đạt từ 6 đến 7,5 tấn nhân/ha.
Gia đình anh Pyul (làng Phung, xã Ia Ly) đang từng bước thay thế diện tích cà phê già cỗi bằng giống mới. Trước đây, vườn cây được trồng bằng giống không rõ nguồn gốc, mật độ dày và phụ thuộc nhiều vào phân hóa học. Sau nhiều năm, cây suy kiệt, năng suất giảm.
Điều kiện kinh tế chưa cho phép tái canh toàn bộ nên mỗi năm anh chỉ thay vài trăm cây. Dù vậy, anh vẫn kiên trì cải tạo từng phần và áp dụng đúng hướng dẫn kỹ thuật để phục hồi vườn cà phê.
Theo ngành nông nghiệp, giống tốt chỉ là điều kiện ban đầu. Muốn vườn cây phát triển bền vững, người trồng phải đồng thời cải tạo đất, bố trí mật độ hợp lý, cân đối dinh dưỡng, tưới nước đúng thời điểm và kiểm soát sâu bệnh theo hướng an toàn.
Thay đổi kỹ thuật để giảm chi phí
Gia đình ông Lê Ánh ở thôn 2, xã Chư Păh có gần 4 ha cà phê, phần lớn được trồng từ cuối những năm 1990. Năm 2024, ông tái canh 1 ha bằng giống TRF1. Đồng thời, ông tăng sử dụng phân hữu cơ, phân sinh học, hạn chế thuốc bảo vệ thực vật và trồng xen sầu riêng.
Theo ông Ánh, trước đây việc chăm sóc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Gia đình sử dụng phân hóa học nhiều nhưng hiệu quả không cao. Ngược lại chi phí tăng trong khi đất ngày càng bạc màu. "Từ khi giảm phân vô cơ, tăng phân hữu cơ và làm đúng hướng dẫn kỹ thuật, cây khỏe hơn, năng suất ổn định hơn", ông Ánh chia sẻ.
Thực tế, trong gần 4 ha cà phê của gia đình vẫn có khoảng 5 sào đã hơn 30 năm tuổi. Dù vậy, diện tích này vẫn cho khoảng 4 tấn cà phê nhân mỗi vụ nhờ được chăm sóc đúng kỹ thuật. Điều đó cho thấy tuổi vườn cây không phải yếu tố quyết định tất cả. Cách chăm sóc và khả năng phục hồi đất mới là yếu tố tạo nên năng suất lâu dài.
Không chỉ gia đình ông Ánh, nhiều nông dân trồng cà phê ở Gia Lai cũng đã bắt đầu tái canh, chuyển dần việc canh tác theo hướng hữu cơ. "Nếu trước đây không có phân bón, vườn cây lập tức "xuống sức". Nay, bằng việc canh tác theo hướng hữu cơ, không chỉ cây cà phê khoẻ mà đất cũng "sống lại" không cằn cỗi như xưa"- một nông dân khác ở xã Chư Păh khẳng định.
Liên kết để đi đường dài
Không chỉ thay đổi kỹ thuật, nhiều nông dân Gia Lai còn tham gia chuỗi liên kết với doanh nghiệp. Tại xã Ia Phí, 520 hộ dân ở các thôn 1, 2, 4 và làng Bàng đang sản xuất cà phê chất lượng cao theo chuỗi liên kết. Các vùng trồng được định vị để truy xuất nguồn gốc. Người dân được tập huấn quy trình canh tác, hỗ trợ chứng nhận và bao tiêu sản phẩm.
Ông Vũ Ngọc Phan, thôn 2, xã Ia Phí, cho biết việc tham gia chuỗi liên kết giúp nông dân tiếp cận giống đạt chuẩn, được hướng dẫn kỹ thuật và có đầu ra ổn định. Đặc biệt, doanh nghiệp thu mua với giá cao hơn khoảng 5.000 đồng/kg cà phê nhân so với thị trường.
Tại Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Nghĩa Hòa, 65 ha cà phê của 12 hộ thành viên cũng đang liên kết với Công ty TNHH Vĩnh Hiệp. Doanh nghiệp hỗ trợ một phần chi phí cây giống, chuyển giao kỹ thuật và thu mua sản phẩm sau thu hoạch.
Theo ông Nguyễn Thế Minh, làm cà phê hiện nay không còn là câu chuyện của từng hộ riêng lẻ. Muốn nâng giá trị hạt cà phê, người dân phải sản xuất theo cùng một quy trình, kiểm soát vật tư đầu vào và đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc.
Hiệu quả của mô hình liên kết không chỉ thể hiện ở năng suất hay giá bán. Quan trọng hơn, người trồng đã thay đổi tư duy sản xuất. Từ chỗ làm theo kinh nghiệm, nhiều hộ đã chuyển sang canh tác theo quy trình, ghi chép nhật ký sản xuất và chú trọng bảo vệ đất. Đó cũng là nền tảng để ngành cà phê Gia Lai phát triển bền vững, đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và xuất khẩu.






