Đại gia Việt duy nhất được mệnh danh là 'Vua sông', 'Chúa mỏ': Bước vào 'vùng cấm' cạnh tranh ngang ngửa với tư bản người Pháp - Hoa, qua đời để lại di chúc dài 30 trang
Nhờ sự nghiệp kinh doanh lẫy lừng, ông được mệnh danh là “Chúa sông Bắc Kỳ”, “Vua tàu thủy Việt Nam”, “Vua mỏ nước Việt”.
Vào đầu thế kỷ XX, trong dân gian lưu truyền câu nói “Nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xương, tứ Bưởi” để chỉ 4 người giàu có và có ảnh hưởng lớn nhất trong giới kinh thương ở Việt Nam. Nhân vật đứng thứ 4 trong câu nói ấy là doanh nhân Bạch Thái Bưởi - người được giới kinh doanh đương thời gọi bằng những danh xưng như “Vua tàu thủy Việt Nam” hay “Chúa sông Bắc Kỳ”.
Từ xuất thân nghèo khó đến khát vọng kinh doanh
Bạch Thái Bưởi sinh năm 1875, nguyên gốc họ Đỗ, sinh tại làng An Phúc, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Đông, Hà Nội). Ông sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo nhưng có học. Cha mất sớm, tuổi nhỏ ông phải cùng mẹ mưu sinh bằng nhiều công việc, trong đó có bán hàng rong.
Sau đó, một gia đình khá giả họ Bạch nhận ông làm con nuôi và cho ăn học, từ đó ông đổi sang họ Bạch. Trong thời gian học quốc ngữ và tiếng Pháp, ông sớm bộc lộ khả năng tính toán và tư duy kinh doanh.
Khi việc học đang dang dở, ông bỏ học để đi làm ký lục cho một hãng buôn của người Pháp ở phố Tràng Tiền (Hà Nội). Thời điểm này, ông thường được gọi là “Ký Năm”.
Năm 1894, Bạch Thái Bưởi chuyển sang làm việc tại một xưởng thuộc hãng thầu công chính. Tại đây, ông lần đầu tiếp xúc với máy móc cơ giới và cách tổ chức sản xuất công nghiệp của phương Tây.
Năm 1895, ông được Phủ Thống sứ Bắc Kỳ chọn sang Pháp tham dự Hội chợ Bordeaux để giới thiệu sản phẩm Việt Nam. Trong thời gian ở Pháp, thay vì du ngoạn, ông dành phần lớn thời gian tìm hiểu phương thức buôn bán, cách tổ chức và quản lý sản xuất, cũng như nghệ thuật quảng bá thương mại của người phương Tây.
Những trải nghiệm này đã định hình con đường tương lai của ông: Bước vào thương trường.
Sau khi trở về nước, Bạch Thái Bưởi rời công việc ổn định tại hãng thầu công chính để kinh doanh. Quyết định này được xem là táo bạo, thậm chí “điên rồ” vào thời điểm đó, bởi ông đã từ bỏ công việc lương cao và cuộc sống an nhàn “sáng vác ô đi, tối vác ô về”.
Trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ vẫn tồn tại quan niệm coi trọng nông nghiệp, xem nhẹ nghề buôn với các tư tưởng như “Trọng nông, ức thương” hay “Sĩ, nông, công, thương”, lựa chọn của ông càng trở nên khác biệt.
Cơ hội lớn đầu tiên đến khi chính quyền thuộc địa xây dựng tuyến đường sắt xuyên Đông Dương và cầu Doumer bắc qua sông Hồng (nay là cầu Long Biên). Nhận thấy nhu cầu lớn về vật liệu gỗ cho đường sắt, Bạch Thái Bưởi liên doanh với một người Pháp để cung cấp tà vẹt gỗ cho Sở Hỏa xa Đông Dương.
Trong suốt 3 năm, ông lặn lội khắp các vùng rừng núi để tìm nguồn gỗ đạt tiêu chuẩn. Khi cầu Doumer hoàn thành năm 1902, hợp đồng này đã giúp ông tích lũy được nguồn vốn lớn.
Sau đó, ông tiếp tục mở rộng hoạt động sang nhiều lĩnh vực như mở hiệu cầm đồ ở Nam Định, thầu thuế chợ tại Nam Định, Thanh Hóa và Vinh. Dù có những lần thất bại, như việc buôn ngô bị thua lỗ nặng, ông vẫn tiếp tục tìm kiếm cơ hội kinh doanh mới.
Bước ngoặt với ngành vận tải đường thủy
Năm 1909, Bạch Thái Bưởi quyết định đầu tư vào lĩnh vực vận tải đường song - một ngành gần như nằm trong tay các hãng tàu của người Pháp và thương nhân Hoa kiều.
Ông thuê lại 3 chiếc tàu Phenix, Dragron và Fai Tsi Long của hãng A.R. Marty, đổi tên thành Phi Phụng, Phi Long và Khoái Tử Long, chạy trên 2 tuyến Nam Định - Hà Nội và Nam Định - Bến Thủy (Nghệ An).
Ngay từ đầu, doanh nghiệp của ông phải đối mặt với sự cạnh tranh quyết liệt từ các hãng tàu Pháp và Hoa. Các đối thủ thậm chí hạ giá cước xuống mức rất thấp nhằm đẩy doanh nghiệp của ông vào nguy cơ phá sản.
Trước tình thế đó, Bạch Thái Bưởi đã khơi dậy tinh thần dân tộc trong kinh doanh. Ông đổi tên các con tàu theo những nhân vật và địa danh lịch sử như Đinh Tiên Hoàng, Lê Lợi, Trưng Trắc, Bạch Đằng, Lạc Long, Hồng Bàng… và tổ chức các buổi diễn thuyết tại bến tàu, kêu gọi người Việt ủng hộ tàu của người Việt.
Những câu vè quảng bá tàu của ông cũng nhanh chóng lan truyền trong dân gian:
"Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng
Cô kia má đỏ hồng hồng
Muốn ra Hà Nội lấy chồng làm quan
Đường đi hiểm trở gian nan
Tàu Bạch Thái Bưởi dọn đàng rước dâu".
Nhờ chiến lược này, lượng hành khách đi tàu của ông tăng nhanh, giúp doanh nghiệp đứng vững trước sự cạnh tranh khốc liệt.
Để chủ động sản xuất và sửa chữa phương tiện, ông còn mua lại xưởng đóng và sửa chữa tàu của A.R. Marty tại Hải Phòng, hình thành hệ thống vận tải - đóng tàu tương đối khép kín.
Đến năm 1916, Bạch Thái Bưởi đã chuyển trụ sở của hãng từ Nam Định xuống Hải Phòng. Tại đây, một công ty hàng hải mang tên Giang Hải Luân thuyền Bạch Thái Bưởi công ty đã ra đời. Năm 1917, hãng Deschwanden của Pháp bị phá sản, Bạch Thái Bưởi mua lại 6 chiếc tàu khác của hãng này.
Từ 3 chiếc tàu thuê ban đầu, đến năm 1919, Bạch Thái Bưởi đã sở hữu 25 tàu lớn nhỏ cùng nhiều sà lan. Đội tàu hoạt động trên 17 tuyến đường thủy khắp miền Bắc, từ Móng Cái đến chợ Bờ, từ Tuyên Quang đến Bến Thủy - Vinh, thậm chí vươn ra các tuyến duyên hải và các cảng quốc tế như Hong Kong, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore và Philippines.
Ước tính mỗi năm doanh nghiệp của ông thực hiện khoảng 5.000 chuyến tàu, chuyên chở khoảng 1,5 triệu hành khách cùng hơn 150.000 tấn hàng hóa. Số lượng nhân viên lên tới 2.500 người làm việc trên các đội tàu, xưởng đóng tàu.
Ngày 7/9/1919, tại Cửa Cấm (Hải Phòng), công ty của Bạch Thái Bưởi hạ thủy tàu Bình Chuẩn - con tàu dài khoảng 42m, trọng tải 600 tấn, động cơ 400 mã lực, được thiết kế và thi công hoàn toàn bởi người Việt.
Ngày 20/8/1920, tàu Bình Chuẩn rời Hải Phòng và cập cảng Sài Gòn vào 17/9/1920, tạo nên tiếng vang lớn trong giới kinh doanh đương thời.
Giới thương nhân Nam Kỳ đã tặng con tàu một tấm bảng đồng khắc dòng chữ: “Tặng tàu Bình Chuẩn - chiếc tàu Việt Nam đầu tiên tại Cảng Sài Gòn.”
Từ chàng nông dân nghèo tới “anh ký Bưởi”, giới tư bản lúc này còn gọi ông là “Chúa sông Bắc Kỳ”.
Sau lợi nhuận vận tải thủy, Bạch Thái Bưởi tiếp tục đầu tư vào nhiều lĩnh vực với ước vọng trở thành nhà kinh doanh tổng hợp, hiện đại, tương tự công ty Ford của Mỹ. Đặc biệt, Bạch Thái Bưởi đã đầu tư thành công vào một lĩnh vực được coi là cấm kỵ của thời Pháp thuộc là ngành khai thác mỏ.
Theo tư liệu của PGS.TS Phạm Xanh - giảng viên khoa Sử, Đại học KHXH&NV (Đại học Quốc gia Hà Nội), doanh nhân Bạch Thái Bưởi là chủ sở hữu của một số mỏ than lớn ở tỉnh Quảng Yên (Quảng Ninh ngày nay). Có thể kể ra những mỏ như An Biên, Bí Chợ, Cầm Thực.
Từ năm 1921, ông đã đầu tư khai thác 2 mỏ có tên tiếng Pháp là Ăng-toan và Ca-đíp, làm tuyến đường sắt chở than dài 3km, sản lượng hàng năm lên đến 3.000 tấn. Năm 1925, ông còn mua thêm 2 mỏ Bí Chợ và Yên Thọ, rộng 1.924ha và làm thêm tuyến đường sắt dài 5,5km ra bến Đá Bạc. Ngoài ra, ông còn chung vốn khai thác một mỏ khác rộng 450ha, hàng năm sản xuất được 9.500 tấn.
Khi được chính quyền tay sai cấp phép khai thác mỏ than, với tầm nhìn vượt thời đại, ông đã thực hiện chính sách “săn đầu người”, nghĩa là tìm mọi cách thu hút nhân tài. Ông cho người sang Pháp ký hợp đồng với sinh viên tốt nghiệp loại giỏi về chuyên ngành hầm mỏ; ký hợp đồng với chuyên viên nước ngoài vào làm sếp mỏ... Với tầm nhìn và sự năng động, sáng tạo ông đã rất thành công, bán được than sang cả Pháp, Nhật.
Sau thành công trong khai thác than, ông còn kinh doanh bất động sản ở Đồ Sơn, Hải Phòng.
Năm 1921, ông cho ra đời “Khai hóa nhật báo”, với mục tiêu cổ vũ tinh thần học hỏi, phát triển thực nghiệp và nâng cao dân trí.
Ông cũng tham gia nhiều hoạt động xã hội, như làm Ủy viên Hội đồng thành phố Hà Nội, tham gia Hội đồng dân biểu, đồng thời được chính quyền bảo hộ Pháp trao Huân chương Bắc đẩu bội tinh năm 1922.
Trong kinh doanh, Bạch Thái Bưởi đặc biệt coi trọng chữ tín. Có lần khi kiểm tra lô tà vẹt chuẩn bị giao cho Sở Hỏa xa Đông Dương, ông phát hiện chất lượng không đạt yêu cầu và quyết định hủy toàn bộ để làm lại, dù phải chịu khoản tiền phạt lớn.
Bên cạnh đó, ông cũng đề cao việc dùng người với quan điểm “Dụng nhân như dụng mộc” - mỗi người cần được đặt đúng vị trí để phát huy khả năng.
Tinh thần dân tộc là yếu tố xuyên suốt trong hoạt động kinh doanh của ông. Khẩu hiệu “Người Việt đi tàu Việt” do ông khởi xướng được xem là tiền thân của phong trào “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” sau này.
Xuất thân từ tầng lớp nghèo khó, doanh nhân Bạch Thái Bưởi luôn dành sự quan tâm đặc biệt tới đời sống của giới thợ thuyền và người lao động. Trong quá trình điều hành doanh nghiệp, ông áp dụng nhiều chế độ hỗ trợ cho nhân viên, đồng thời trợ cấp cho những học sinh nghèo có chí hướng học tập, mong muốn du học để mở mang tri thức.
Trong gia đình, ông giáo dục các con phải biết trân trọng những người lao động cần cù và cuộc sống của người nghèo. Khi các con đến tuổi trưởng thành, ông lần lượt giao việc tại các bến tàu, mỏ khai thác và cơ sở kinh doanh của gia đình, để họ trực tiếp trải nghiệm công việc và học cách quản lý từ thực tế.
Khối tài sản lớn và bản di chúc 30 trang
Bạch Thái Bưởi qua đời ngày 22/7/1932 tại Hải Phòng sau một cơn đau tim, khi mới 58 tuổi.
Khối tài sản của doanh nhân Bạch Thái Bưởi lớn đến mức phải được kê chi tiết trong bản di chúc dài tới 30 trang. Bản di chúc này được viết bằng tiếng Pháp, lập trước khi ông qua đời khoảng 3 tháng.
Phần tài sản ông để lại cho con cháu chủ yếu là ngân phiếu và bất động sản, không có vàng. Một số người thừa kế nhận được hàng chục nghìn USD - con số rất lớn vào thời điểm bấy giờ.
Hệ thống bất động sản của ông trải rộng tại nhiều địa phương như Hà Nội, Hải Phòng, Uông Bí, Nam Định, Thanh Hóa và Vinh. Ngoài ra, ông còn sở hữu đội tàu vận tải, các hầm mỏ, công ty in ấn cùng nhiều cơ sở kinh doanh khác.
Trong bản di chúc, Bạch Thái Bưởi bày tỏ sự tin tưởng khi giao trọn sự nghiệp kinh doanh cho con trai là Bạch Thái Tòng tiếp quản.
Sau khi ông qua đời năm 1932, gia đình đã làm mặt nạ thạch cao để lưu giữ gương mặt của ông. Thời điểm đó, việc làm mặt nạ thạch cao sau khi mất chỉ xuất hiện trong những gia đình giàu có, bởi chi phí thực hiện khá đắt đỏ.
Đám tang của vị doanh nhân họ Bạch được xem là một trong những đám tang lớn nhất thời bấy giờ. Đoàn người đưa tang kéo dài hàng kilomet, trong đó có không ít người lao động nghèo từng được ông giúp đỡ khi còn sống.
Doanh nhân Bạch Thái Bưởi sau đó được mai táng tại Uông Bí (Quảng Ninh). Phần mộ của ông nằm trên một quả đồi thuộc khu đất của gia đình. Đặc biệt, để đưa quan tài từ chân đồi lên vị trí an táng trên đỉnh, gia đình phải làm đường ray tạm và sử dụng tời kéo.
Đến năm 2013, phần mộ của doanh nhân Bạch Thái Bưởi đã được con cháu cải táng, đưa về quê nhà ở Hà Đông.
Hơn một thế kỷ sau, tên tuổi Bạch Thái Bưởi vẫn được nhắc đến như một biểu tượng của tinh thần thực nghiệp và ý chí vươn lên của doanh nhân Việt Nam. Không chỉ tạo dựng một đế chế kinh doanh lớn trong thời kỳ thuộc địa, ông còn truyền cảm hứng về tinh thần tự lực, cạnh tranh và lòng tự tôn dân tộc trên thương trường.