Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp quý I/2021 tăng 0,27%
Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp quý I/2021 tăng 1,04% so với quý trước và tăng 0,27% so với cùng kỳ năm 2020.
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng quý I/2021 tăng 9,47% so với quý trước và giảm 3,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số giá sản xuất dầu thô và khí đốt tự nhiên có mức tăng so với quý trước cao nhất với 19,45%. Nguyên nhân chủ yếu do hoạt động sản xuất tại các quốc gia trên thế giới đang dần phục hồi, các nước đẩy mạnh chương trình vắc – xin phòng chống dịch Covid-19. Bên cạnh đó, OPEC+ duy trì khai thác sản lượng dầu dưới mức nhu cầu sử dụng của thị trường, cùng với việc Mỹ triển khai gói cứu trợ, kích thích nền kinh tế trị giá 1.900 tỷ USD tác động làm tăng giá dầu thế giới, theo đó làm tăng giá dầu thô và khí đốt tự nhiên khai thác.
![]() |
| Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp quý I/2021 tăng 0,27% so với cùng kỳ năm 2020 |
Tiếp theo là chỉ số giá sản phẩm khai khoáng khác với mức tăng 0,97% so với quý trước do nguồn cung một số sản phẩm giảm như: cát đen khai thác khó khăn trong mùa khô dẫn đến chi phí khai thác cát tăng, nguồn khai thác khan hiếm; xi măng giá tăng do giá nguyên liệu clanke đầu vào sản xuất tăng; muối biển tăng do nhu cầu sử dụng tăng trong khi muối chưa đến vụ khai thác.
Chỉ số giá dịch vụ hỗ trợ khai thác mỏ và quặng quý I/2021 tăng 0,03% so với quý trước do giá thuê dịch vụ nổ mìn tăng. Hai nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm so với quý trước là than cứng và than non giảm 1,93%; quặng kim loại và tinh quặng kim loại giảm 1,15%.
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo quý I/2021 tăng 1,04% so với quý trước và tăng 0,59% so với cùng kỳ năm trước. So với quý IV/2020, trong 24 nhóm sản phẩm chính có 16 nhóm sản phẩm tăng giá và tăng cao nhất là nhóm than cốc và dầu mỏ tinh chế với 24,14% do chi phí đầu vào sản xuất như xăng dầu tăng; sản phẩm kim loại tăng 7,53%; hóa chất tăng 1,66%; dịch vụ sao chép bản ghi tăng 1,58%; thực phẩm chế biến tăng 1,25%; giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 1,23%; sản phẩm từ cao su và plastic tăng 0,8%…
Ở chiều ngược lại, có 8 nhóm sản phẩm quý I/2021 giảm giá so với quý trước, trong đó nhóm giảm nhiều nhất là nhóm da và các sản phẩm có liên quan với 2,17%, tiếp đến là nhóm gỗ và các sản phẩm từ gỗ, tre giảm 0,19%; đồ uống giảm 0,09%…
Chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí quý I/2021 giảm 2,24% so với quý trước và giảm 1,71% so với cùng kỳ năm trước, do nhu cầu sử dụng điện cho sản xuất giảm (các đơn vị sản xuất nghỉ Tết Tân Sửu) và giá than trong nước phục vụ sản xuất điện giảm, theo đó giá điện sản xuất của các nhà máy nhiệt điện và các nhà máy điện khí giảm. Đồng thời, trong tháng 01/2021 các địa phương thực hiện Công văn số 9764/BCT-ĐTĐL ngày 18/12/2020 của Bộ Công Thương về việc hỗ trợ giảm giá điện, giảm tiền điện cho các khách hàng sử dụng điện bị ảnh hưởng của dịch Covid-19 đợt 2 làm cho giá điện quý I/2021 giảm.
Chỉ số giá sản xuất cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải quý I/2021 giảm 0,02% so với quý trước và tăng 1,54% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nước tự nhiên khai thác tăng 0,22% và tăng 2,71%; dịch vụ nước thải, xử lý nước thải, rác thải giảm 0,26% và giảm 2,49%.









