Cà phê Tây Bắc chuyển hướng thích ứng tiêu chuẩn EUDR

Sản phẩm • 09/10/2026 09:43

Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) không chỉ đặt ra thách thức về truy xuất nguồn gốc mà còn trở thành đòn bẩy buộc ngành cà phê vùng Tây Bắc thay đổi tư duy: chuyển mạnh từ mở rộng quy mô, quảng canh truyền thống sang canh tác bền vững, nâng cao chất lượng và quản trị chặt chẽ dữ liệu vùng trồng.

ca-phe_1791513735.webp
Cây cà phê đã gắn bó với  nông dân Sơn La hơn 30 năm qua. Ảnh Lê Hạnh

Hiệu quả từ những mô hình chuyển đổi canh tác thích ứng tự nhiên

Tại hội thảo trực tuyến “Thúc đẩy sản xuất cà phê đáp ứng EUDR tại Việt Nam: Chuyển đổi từ canh tác truyền thống sang sản xuất bền vững tại Tây Bắc” do Mạng lưới Nghiên cứu Chính sách Nông lâm nghiệp tổ chức, ông Nguyễn Mạnh Sơn (Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường) nhấn mạnh rằng EU hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của cà phê Việt Nam, chiếm khoảng 40% tổng sản lượng. Để đáp ứng EUDR, toàn ngành đang tích cực thu thập dữ liệu vùng trồng gắn với từng nông hộ, lập bản đồ ranh giới rừng quốc gia năm 2020 làm chuẩn truy xuất và thiết lập các cơ chế quản lý đồng bộ.

Dù Tây Bắc đang vươn lên thành vùng sản xuất cà phê Arabica lớn nhất cả nước, bức tranh canh tác tại đây có sự khác biệt rõ rệt so với Tây Nguyên – nơi tập trung hơn 90% diện tích cả nước với các vùng trồng đã ổn định, áp dụng thâm canh, xen canh che bóng và có chứng chỉ bền vững. Phần lớn diện tích tại Tây Bắc mới phát triển trong khoảng một thập kỷ qua, đặc biệt tăng mạnh từ năm 2023 nhờ giá xuất khẩu tăng cao (riêng Điện Biên năm 2026 đã trồng mới hơn 10.000 ha; Sơn La đạt gần 40.000 ha). Sự phát triển “nóng” này mang lại sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro lớn: đa phần người dân vẫn canh tác quảng canh, phụ thuộc nước trời trên địa hình dốc cao, dễ gây xói mòn và suy thoái đất.

Trước thực tế đó, các mô hình canh tác thông minh, thích ứng biến đổi khí hậu đã bắt đầu hình thành tại Sơn La. Điển hình là Dự án “Thích ứng xanh và bền vững cho các cộng đồng dân tộc thiểu số tại tỉnh Sơn La” (Mekong Elevate) do Tổ chức CARE triển khai, hỗ trợ kỹ thuật tưới tiết kiệm (tưới phun mưa, tưới nhỏ giọt) kết hợp giữ thảm cỏ và bón phân hữu cơ. Giải pháp này giúp điều tiết thời điểm ra hoa của cây Arabica, giảm công lao động, duy trì độ ẩm và bảo vệ đất. Thực tế tại hộ ông Hà Văn Thảo (xã Mường Chanh), sau một năm áp dụng hệ thống tưới hỗ trợ từ năm 2024, năng suất vượt trội rõ rệt so với diện tích đối chứng, thúc đẩy gia đình nhân rộng toàn bộ vườn cây. Dù vậy, theo TS Nguyễn Thế Mạnh (Tổ chức CARE), chi phí đầu tư ban đầu và tình trạng thiếu nguồn nước ở các sườn đồi cao vẫn là rào cản lớn cần tháo gỡ.

Xác định đúng vùng thổ nhưỡng và chuẩn hóa dữ liệu phát triển

Bên cạnh giải pháp kỹ thuật, việc cá biệt hóa quy trình sản xuất theo từng vùng sinh thái là yếu tố sống còn. Ông Nguyễn Xuân Thao, Giám đốc Hợp tác xã Cà phê Bích Thao, khẳng định không thể sao chép máy móc kỹ thuật của Tây Nguyên cho Tây Bắc, bởi cà phê chè Arabica tại Sơn La khác biệt hoàn toàn với Robusta về giống, khí hậu, thổ nhưỡng, thời điểm ra hoa lẫn cơ chế thụ phấn. Từ năm 2017, Hợp tác xã Bích Thao đã chủ động đưa các giống mới thích ứng biến đổi khí hậu, kháng sâu bệnh vào tái canh; tập huấn kỹ thuật tỉa cành, tạo tán, trồng cây che bóng và dùng chế phẩm vi sinh. Nhờ đó, năng suất duy trì 25–30 tấn quả tươi/ha, thậm chí các giống mới như A16, TN7 khi thâm canh đạt tới 40–45 tấn/ha.

Dù năng suất ấn tượng và tổng sản lượng Sơn La đạt khoảng 50.000 tấn nhân xuất khẩu mỗi năm, tỷ lệ cà phê đặc sản và chất lượng cao hiện nay vẫn chiếm chưa đầy 1%. Con số này phản ánh bài toán cốt lõi của Tây Bắc không nằm ở diện tích hay sản lượng mà là nâng cao giá trị và xác định chuẩn xác vùng trồng. Với khoảng 40.000 ha phần lớn do các nông hộ tự canh tác phân tán, việc nhân rộng mô hình bền vững gặp không ít trở ngại.

Theo TS Nguyễn Thế Mạnh, Sơn La hiện vẫn thiếu một nghiên cứu tổng thể tích hợp đầy đủ số liệu khí tượng, điều kiện sinh thái, nông hóa và tính chất đất. Không phải khu vực nào trong tỉnh cũng đủ điều kiện để tạo ra hạt Arabica chất lượng cao. Do đó, việc cấp bách lâu dài là các cơ quan, doanh nghiệp và tổ chức cần phối hợp xây dựng một bộ dữ liệu chuẩn hóa, có cơ sở khoa học về đất đai và khí hậu. Bộ dữ liệu này chính là lời giải để ngành cà phê Tây Bắc vừa minh chứng được nguồn gốc xuất xứ đáp ứng trọn vẹn quy chuẩn EUDR, vừa định hình chiến lược phát triển bền vững theo chiều sâu.

Phạm Anh
Tin đáng đọc