Vị vua nổi tiếng của sử Việt lên ngôi năm 7 tuổi, 16 tuổi bị lưu đày, qua đời do tai nạn máy bay, 42 năm sau mới được 'hồi hương'

Đời sống 11/07/2026 12:20

Mặc dù lên ngôi khi còn nhỏ tuổi nhưng ông có suy nghĩ, chính kiến, tư tưởng độc lập, không chấp nhận sự điều khiển, chi phối của thực dân.

Triều Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Trong 13 vị hoàng đế của vương triều này, có 3 vị nổi tiếng với tinh thần chống thực dân Pháp là Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân. Cả 3 đều bị chính quyền thực dân phế truất và lưu đày ra nước ngoài. 

Trong số đó, vua Duy Tân để lại nhiều dấu ấn bởi dù lên ngôi khi còn nhỏ tuổi nhưng sớm bộc lộ lòng yêu nước, nuôi chí giành độc lập và trực tiếp tham gia phong trào kháng Pháp.

Vua Duy Tân tên khai sinh là Nguyễn Phúc Vĩnh San, sinh năm 1900. Ông là con út của vua Thành Thái và bà Tài nhân Nguyễn Thị Định. 

Sau khi vua Thành Thái bị thực dân Pháp ép thoái vị, Nguyễn Phúc Vĩnh San lúc ấy chỉ mới 7 tuổi đã được đưa lên nối ngôi. Ngày 5/9/1907, ông chính thức đăng cơ. Sở dĩ người Pháp lựa chọn vị hoàng tử nhỏ tuổi này vì cho rằng ông còn non nớt, dễ kiểm soát.

duytan_1783657146.jpg
Vua Duy Tân (ngồi giữa). Ảnh: P. Dieulefils.

Tuy nhiên, trái với tính toán của thực dân Pháp, vua Duy Tân tuy nhỏ tuổi nhưng có suy nghĩ, chính kiến, tư tưởng độc lập. Ông không chấp nhận sự điều khiển, chi phối của thực dân và nhiều lần có hành động thể hiện tinh thần dân tộc. 

Khi lên ngôi, ông miệt mài học tập, am hiểu nhiều lĩnh vực như triết học, chính trị, luật lệ, triều chính... Vua Duy Tân còn sử dụng thành thạo các nhạc cụ dân tộc như đàn nguyệt, đàn tranh... Ông cũng có tinh thần cầu thị, tiếp thu văn hóa, thành tựu phương Tây.

Theo nhiều sử liệu, năm 1912, vua Duy Tân ra lệnh đóng cửa Hoàng thành để phản đối việc tổ chức thu gom vàng trong Hoàng thành Huế. Sau đó, Toàn quyền Đông Dương phải trực tiếp đến Huế để giải quyết. 

Năm 13 tuổi, nhà vua cũng bày tỏ rằng Hiệp ước Patenôtre năm 1884 giữa triều Nguyễn và Pháp không được thực hiện đúng cam kết, nên đề nghị cử người sang Pháp xem xét lại hiệp ước. Tuy nhiên, không một đại thần nào dám nhận trọng trách này.

Hai năm sau, vua Duy Tân triệu tập Hội đồng Phụ chính, yêu cầu các đại thần ký vào văn bản để chính ông đứng tên trình lên Tòa Khâm sứ. Tuy nhiên, vì lo ngại nên các đại thần đều từ chối.

Năm 1916, ông bí mật phối hợp với nhiều chí sĩ yêu nước, chuẩn bị phát động khởi nghĩa nhằm giành lại độc lập. Theo kế hoạch, cuộc nổi dậy sẽ diễn ra vào rạng sáng ngày 3/5/1916. Tuy nhiên, kế hoạch bị bại lộ, vua Duy Tân bị bắt khi đang trên đường rời Huế. 

duytan2_1783657149.jpg
Vua Duy Tân những năm 1930. Ảnh tư liệu in trong cuốn Vua Duy Tân.

Sau khi bị bắt, chính quyền Pháp nhiều lần tìm cách thuyết phục Duy Tân trở lại ngai vàng để tiếp tục làm vị vua dưới sự kiểm soát của họ nhưng ông kiên quyết từ chối. Không lâu sau đó, ông bị phế truất và cùng vua cha Thành Thái bị lưu đày tới đảo Réunion, thuộc Ấn Độ Dương. Khi ấy ông mới 16 tuổi. 

Những người theo nhà vua trong chuyến lưu đày gồm mẹ là bà Nguyễn Thị Định, hoàng phi Mai Thị Vàng và người em ruột. Do không thích nghi với khí hậu trên đảo, hoàng phi Mai Thị Vàng bị sảy thai và không còn khả năng sinh con. Theo lời khuyên của Duy Tân, bà trở về Việt Nam vào năm 1921 và sống lặng lẽ đến cuối đời.

Năm 1927, Duy Tân kết hôn với một thiếu nữ người Pháp sinh sống tại Réunion. Hai người có 4 người con, gồm 1 con gái và 3 con trai. 

Trong thời gian lưu đày, Duy Tân không từ bỏ khát vọng phục vụ đất nước. Ông tham gia lực lượng chiến đấu chống phát xít Đức. 

Sau khi chiến tranh kết thúc năm 1945, Chính phủ Pháp từng xem xét khả năng đưa Duy Tân trở lại Đông Dương như một giải pháp chính trị. Bản thân cựu hoàng cũng mong muốn trở về quê hương để góp phần xây dựng tương lai đất nước.

Tuy nhiên, khi kế hoạch chưa kịp thực hiện, ngày 26/12/1945, ông tử nạn trong một vụ rơi máy bay tại khu vực Bangui (nay thuộc Cộng hòa Trung Phi) khi mới 45 tuổi. Nguyên nhân vụ tai nạn đến nay vẫn còn nhiều giả thuyết khác nhau.

Hơn bốn thập kỷ sau, ngày 24/4/1987, linh cữu cựu hoàng Duy Tân được đưa từ đảo Réunion về Việt Nam và an táng tại An Lăng ở Huế, bên cạnh vua cha Thành Thái, khép lại hành trình lưu lạc kéo dài 42 năm nơi đất khách.

Ngày nay, tên vua Duy Tân được đặt cho nhiều tuyến đường tại các địa phương trên cả nước như một sự ghi nhận đối với tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh giành độc lập của vị vua trẻ trong lịch sử dân tộc. Tại Hà Nội có phố Duy Tân ở phường Cầu Giấy. Đà Nẵng cũng có một con đường mang tên ông. Ngoài ra, trên cả nước còn có nhiều trường học mang tên vị vua yêu nước này. 

Bài viết có tham khảo thông tin tại:

Những vị "hoàng đế con nít" nổi danh trong sử Việt (3) - Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Ngai vàng - bảo vật uy quyền của vua Duy Tân - Vnexpress.

Trúc Linh