Thầy giáo được mệnh danh là 'nhà tiên tri' số 1 Việt Nam

Đời sống • 07/10/2026 22:46

Ông vừa là một danh sĩ, nhà giáo, nhà thơ lớn của thế kỷ XVI, vừa là nhân vật gắn với nhiều câu chuyện dự báo tương lai được dân gian truyền tụng.

Trong lịch sử Việt Nam, Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhân vật đặc biệt. Không chỉ nổi tiếng với tài học, thơ văn và đạo đức của một nhà giáo, ông còn được hậu thế biết đến qua những lời sấm được lưu truyền trong dân gian suốt nhiều thế kỷ. Những lời sấm này về sau được tập hợp và gọi chung là “Sấm Trạng Trình”

Với những lời “sấm truyền” được cho là ứng nghiệm sau hàng trăm năm, ông được người đời suy tôn là “nhà tiên tri” số 1 của Việt Nam.

Nguyễn Bỉnh Khiêm tên thuở nhỏ là Nguyễn Văn Đạt, sinh năm 1491 tại làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc xã Nguyễn Bỉnh Khiêm, TP. Hải Phòng).

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và những lời tiên tri nổi tiếng - Ảnh 2.
Chân dung cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ảnh vẽ minh họa/Internet

Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống học vấn. Thân phụ là Nguyễn Văn Định (hiệu Cù Xuyên) một người hay chữ nhưng con đường khoa cử không thuận lợi. Mẹ ông là Nhữ Thị Thục, con gái út của Tiến sĩ, Thượng thư bộ Hộ Nhữ Văn Lan. Theo các tư liệu được lưu truyền, bà Nhữ Thị Thục là người có học vấn và am hiểu tướng số.

Khi trưởng thành, Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm đến Lương Đắc Bằng để theo học. Lương Đắc Bằng là Bảng nhãn, từng giữ chức Thượng thư dưới triều Lê sơ, sau khi cáo quan đã về quê ở Lạch Triều, huyện Hoằng Hóa cũ, Thanh Hóa mở trường dạy học.

Với tư chất thông minh và sự chuyên cần, Nguyễn Bỉnh Khiêm nhanh chóng trở thành một trong những học trò xuất sắc của Lương Đắc Bằng. Trước khi qua đời, người thầy được cho là đã truyền lại cho ông những kiến thức về Dịch học và giao người con trai là Lương Hữu Khánh cho ông tiếp tục dạy dỗ.

Trong bối cảnh xã hội Đại Việt thế kỷ XVI có nhiều biến động, Nguyễn Bỉnh Khiêm không sớm bước vào con đường khoa cử. Mãi đến năm 1535, khi đã 44 tuổi, ông mới dự thi và đỗ Trạng Nguyên dưới triều Mạc Thái Tông.

Sau khi đỗ đạt, Nguyễn Bỉnh Khiêm được bổ nhiệm làm Đông các hiệu thư, sau đó giữ các chức Tả thị lang bộ Hình, Tả thị lang bộ Lại và Đông các Đại học sĩ. Trong thời gian làm quan, ông thể hiện quan điểm cứng rắn trước tình trạng quyền thần lũng đoạn triều chính.

Khi Mạc Hiến Tông lên ngôi, Nguyễn Bỉnh Khiêm từng dâng sớ xin trị tội 18 lộng thần. Tuy nhiên, đề nghị của ông không được chấp thuận. Năm 1542, ông từ quan, trở về quê mở trường dạy học.

Sau đó, nhà Mạc tiếp tục mời Nguyễn Bỉnh Khiêm ra giúp triều đình. Ông được phong tước Trình Nguyên hầu, sau thăng Thượng thư bộ Lại, tước Trình Quốc công. Từ đây, tên gọi Trạng Trình, Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm được sử dụng rộng rãi trong dân gian.

42.tuong-dai-nguyen-binh-khiem6371_1791385992.jpg
          Tượng đài Danh nhân Văn hóa Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ảnh: Internet

Dù không thường xuyên trực tiếp tham gia triều chính, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn được các vua Mạc coi trọng và tham vấn về những vấn đề quan trọng. Sách “Lịch triều hiến chương loại chí” ghi nhận ông là người học rộng, hiểu sâu Kinh Dịch và được nhà Mạc tìm đến hỏi về những việc lớn của đất nước.

Chính vốn hiểu biết về Dịch học cùng những lời dự đoán được lưu truyền đã tạo nên danh tiếng đặc biệt của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong đời sống văn hóa Việt Nam. Hậu thế gắn với ông hàng trăm câu sấm, thường được gọi chung là “Sấm Trạng Trình”.

Một trong những nội dung được nhắc đến nhiều khi nói về các trước tác và lời sấm của Nguyễn Bỉnh Khiêm là danh xưng “Việt Nam”. Trong “Sấm ký”, phần có tựa đề “Trình tiên sinh quốc ngữ” có câu “Việt Nam khởi tổ xây nền…”.

Đáng chú ý, một số nhà nghiên cứu cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể là một trong những người sớm sử dụng danh xưng “Việt Nam” một cách có ý thức để chỉ đất nước. Theo các tư liệu được dẫn lại, danh xưng này xuất hiện ít nhất 4 lần trong những tác phẩm gắn với Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Ngoài câu “Việt Nam khởi tổ xây nền”, tên gọi Việt Nam còn được ghi trong bài thơ chữ Hán có tựa đề “Việt Nam sơn hà hải động thưởng vịnh”. Một số bài thơ trong “Bạch Vân am thi tập” cũng được cho là có sử dụng danh xưng này.

Trong bài thơ gửi Trạng nguyên, Thư Quốc công Nguyễn Thiến, hai câu cuối có nhắc đến Việt Nam. Một bài thơ khác gửi Trạng nguyên, Tô Khê hầu Giáp Hải cũng xuất hiện danh xưng này với ý nói về non sông đất nước.

Việc Nguyễn Bỉnh Khiêm sử dụng hai chữ “Việt Nam” được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm bởi ông sống vào thế kỷ XVI, trong thời kỳ quốc hiệu được sử dụng phổ biến là Đại Việt. Vì vậy, những tư liệu có chứa danh xưng “Việt Nam” trong các tác phẩm gắn với ông trở thành một nguồn tư liệu đáng chú ý trong quá trình nghiên cứu lịch sử hình thành và sử dụng tên gọi Việt Nam.

Tuy nhiên, cần phân biệt giữa việc một danh xưng xuất hiện trong tư liệu với việc xác định đó là quốc hiệu chính thức của quốc gia tại thời điểm đó. Đây là vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu lịch sử và văn bản học, cần được đặt trong bối cảnh của từng tư liệu cụ thể.

Nguyễn Bỉnh Khiêm đã để lại cho hậu thế 478 câu sấm với tuổi đời trên 500 năm, được gọi chung là “Sấm Trạng Trình”. Ảnh: Internet

Trải qua hơn 500 năm, hình ảnh Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn được lưu giữ trong đời sống văn hóa Việt Nam. Ông vừa là một danh sĩ, nhà giáo, nhà thơ lớn của thế kỷ XVI, vừa là nhân vật gắn với nhiều câu chuyện dự báo tương lai được dân gian truyền tụng.

Những lời sấm gắn với tên tuổi Trạng Trình được hậu thế diễn giải theo nhiều cách khác nhau và thường được liên hệ với những biến động của lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ. Chính điều này khiến Nguyễn Bỉnh Khiêm trở thành một trong những nhân vật có ảnh hưởng đặc biệt trong lịch sử văn hóa và đời sống tinh thần của người Việt.

Dù nhìn từ góc độ lịch sử, văn học hay văn hóa dân gian, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn để lại một di sản đáng chú ý. Từ một nhà nho sống giữa thời kỳ Lê - Mạc phân tranh, ông trở thành biểu tượng của trí tuệ, học vấn và khả năng nhìn nhận thời cuộc với tên tuổi được lưu truyền qua nhiều thế hệ. 

Bảo Lam