Siết chặt từ gốc, tăng chế tài: Lấp “lỗ hổng” quản lý để chặn thực phẩm bẩn
Nhiều khoảng trống trong quản lý an toàn thực phẩm đã được chỉ ra tại tọa đàm góp ý sửa đổi luật do Báo Pháp Luật TP.HCM tổ chức ngày 29/5. Các chuyên gia, nhà quản lý và doanh nghiệp đồng thuận cần tăng chế tài đủ sức răn đe, đồng thời chuyển mạnh sang quản lý theo chuỗi, dựa trên dữ liệu và hậu kiểm để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Tại tọa đàm “Góp ý sửa đổi Luật An toàn thực phẩm: Chặn thực phẩm bẩn từ gốc”, nhiều ý kiến cho rằng hệ thống pháp luật hiện hành vẫn tồn tại không ít khoảng trống, đặc biệt trong khâu kiểm soát chuỗi cung ứng và thực thi chế tài. Điều này khiến nguy cơ thực phẩm kém chất lượng, không rõ nguồn gốc vẫn len lỏi ra thị trường.
Theo ông Trần Phú Cường, Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y TP.HCM, dù Luật Chăn nuôi năm 2018 đã quy định khá đầy đủ về quy trình chăn nuôi, sử dụng thức ăn và thuốc thú y, song thực tế vẫn còn những điểm chưa được kiểm soát hiệu quả.
Đáng lo ngại nhất là khâu vận chuyển động vật và sản phẩm động vật. Việc chưa triển khai kiểm dịch nội tỉnh khiến nguy cơ đánh tráo nguồn gốc trong quá trình lưu thông vẫn tồn tại, gây khó khăn cho việc kiểm soát dịch bệnh và bảo đảm an toàn thực phẩm.
Sau khi mở rộng địa giới hành chính, TP.HCM hiện có 83 cơ sở giết mổ, mỗi ngày xử lý khoảng 9.000 con heo, hơn 120.000 con gia cầm và trên 100 con trâu, bò. Tuy nhiên, nguồn cung này mới đáp ứng khoảng một nửa nhu cầu tiêu dùng, phần còn lại phụ thuộc vào nguồn hàng từ các địa phương khác. Điều này tạo áp lực lớn cho công tác kiểm soát chất lượng.
Từ đầu năm đến nay, ngành thú y TP.HCM đã giám sát hơn 1.000 mẫu trong tổng số 1.300 mẫu động vật và sản phẩm động vật nhập vào thành phố, đồng thời kiểm tra 161 mẫu tại 101 cơ sở nhằm phát hiện chất cấm. Kết quả cho thấy tất cả đều âm tính. Tuy nhiên, các đoàn kiểm tra liên ngành vẫn phát hiện và xử lý 41 trường hợp vi phạm, với tổng số tiền xử phạt khoảng 290 triệu đồng.
Theo ông Cường, mức xử phạt hiện nay chưa tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm. Do đó, Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) cần hướng tới kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng, từ chăn nuôi, vận chuyển đến giết mổ, chế biến và phân phối. Đồng thời, cần tăng mạnh chế tài xử phạt để đủ sức răn đe. “Người dân cần có khả năng truy xuất nguồn gốc rõ ràng khi mua thực phẩm. Khi đó, họ không chỉ mua sản phẩm mà còn mua sự an tâm và niềm tin”, ông Cường nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, luật sư Lê Kiên Lương cho rằng dù pháp luật hiện đã có cả chế tài hành chính và hình sự, nhưng hiệu quả răn đe vẫn chưa cao. Nhiều trường hợp thu lợi bất chính hàng chục, thậm chí hàng trăm tỷ đồng từ thực phẩm bẩn nhưng mức xử phạt chỉ ở mức vài trăm triệu đồng, khiến vi phạm bị xem như một chi phí kinh doanh.
Từ đó, ông kiến nghị cần tăng mức xử phạt, đồng thời bổ sung cơ chế truy thu toàn bộ khoản lợi bất chính. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện quy định về kiểm soát thực phẩm trên môi trường số, truy xuất nguồn gốc và tăng cường hậu kiểm theo hướng quản lý rủi ro.
Ở góc độ doanh nghiệp, bà Lý Kim Chi, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Thực phẩm TP.HCM, cho rằng việc sửa đổi luật cần tiếp cận theo hướng hiện đại hơn, dựa trên dữ liệu và công nghệ.
Trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển mạnh, các mô hình kinh doanh đa nền tảng ngày càng phổ biến, hệ thống dữ liệu quản lý vẫn còn phân tán, khả năng truy xuất nguồn gốc còn hạn chế. Trong khi đó, công tác hậu kiểm và phối hợp liên ngành chưa thực sự đồng bộ.
Hiệp hội đề xuất xây dựng một hệ thống quản lý an toàn thực phẩm trên nền tảng dữ liệu quốc gia thống nhất, liên thông giữa các bộ, ngành và địa phương. Các thông tin về công bố sản phẩm, kiểm nghiệm, thanh tra, cảnh báo vi phạm và thu hồi sản phẩm cần được tích hợp trên cùng một hệ thống.
Bà Chi cũng kiến nghị chuyển mạnh từ tiền kiểm sang quản lý theo rủi ro và hậu kiểm, chỉ áp dụng đăng ký bản công bố đối với nhóm sản phẩm có nguy cơ cao nhằm giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
Đại diện doanh nghiệp sản xuất, ông Trương Hải Hưng, Phó Tổng Giám đốc Vissan, cho rằng muốn ngăn chặn thực phẩm bẩn cần kiểm soát chặt toàn bộ chuỗi cung ứng, từ vùng nguyên liệu, thức ăn chăn nuôi đến khâu giết mổ, chế biến và phân phối. Trong đó, truy xuất nguồn gốc phải được thực hiện xuyên suốt trên nền tảng số để bảo đảm minh bạch. Ông cũng đề nghị tăng cường kiểm soát các cơ sở giết mổ nhỏ lẻ và xử lý nghiêm các nguồn nguyên liệu không rõ xuất xứ, nhằm bảo vệ doanh nghiệp làm ăn chân chính.
Ở khâu phân phối, ông Đỗ Quang Tiến, Phó Giám đốc Phòng Quản lý chất lượng Saigon Co.op, cho biết các doanh nghiệp bán lẻ hiện phải đầu tư lớn cho hệ thống kiểm nghiệm và truy xuất nguồn gốc. Tuy nhiên, việc thực thi vẫn gặp khó khăn do quy định pháp luật còn chồng chéo, dữ liệu giữa các khâu chưa được kết nối đồng bộ. Do đó, cần xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung, liên thông toàn chuỗi để nâng cao hiệu quả quản lý.
Theo bà Phạm Khánh Phong Lan, Giám đốc Sở An toàn thực phẩm TP.HCM, với quy mô dân số khoảng 14 triệu người cùng hơn 3.500 trường học và trên 2 triệu học sinh, nhiệm vụ bảo đảm an toàn thực phẩm là vô cùng lớn.
Bà cho rằng không thể kỳ vọng việc thành lập một cơ quan chuyên trách sẽ giải quyết toàn bộ vấn đề. “Nếu chỉ cần lập một sở là hết ngộ độc thực phẩm thì đó phải là một chiếc đũa thần”, bà nói.
Theo bà Lan, Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) cần tập trung vào bốn định hướng chính: thống nhất đầu mối quản lý; kiểm soát theo chuỗi từ gốc; siết chặt việc sử dụng hóa chất, phụ gia; và thúc đẩy phát triển các chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn. Đặc biệt, cần chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm để giảm gánh nặng thủ tục cho doanh nghiệp tuân thủ tốt, đồng thời nâng cao hiệu quả giám sát đối với các cơ sở vi phạm.
Bà cũng cảnh báo nguy cơ lớn đối với sức khỏe cộng đồng không chỉ đến từ các vụ ngộ độc cấp tính mà còn từ sự tích tụ lâu dài của các chất độc hại trong thực phẩm. “Luật sửa đổi phải bảo đảm tính khả thi, tránh chồng chéo với các luật chuyên ngành và quan trọng nhất là được thực thi hiệu quả trong thực tế, từ đó tạo ra chuyển biến thực chất trong công tác bảo đảm an toàn thực phẩm”, bà Lan nhấn mạnh.