Nông sản Việt làm gì để gia tăng giá trị xuất khẩu?
Xuất khẩu nông sản Việt Nam liên tục ghi nhận những kỷ lục ấn tượng về kim ngạch, khẳng định vị thế cường quốc toàn cầu. Tuy nhiên, phía sau các con số khổng lồ lại là nghịch lý đáng lo ngại khi thương hiệu quốc gia vẫn mờ nhạt và giá trị thu về cực kỳ khiêm tốn.
Nghịch lý xuất khẩu kim ngạch lớn nhưng thiếu thương hiệu
Tại hội nghị “Nâng cao năng lực hội nhập kinh tế quốc tế về ngành hàng lương thực, thực phẩm và sản phẩm nông nghiệp sau chế biến”, bức tranh ngành nông nghiệp đã lộ diện với nhiều gam màu tương phản. Thống kê sáu tháng đầu năm 2026 cho biết kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản cả nước ước đạt 35,88 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ. Trong đó, Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm chế biến lớn, chiếm 30-35% giá trị sản xuất vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đặc biệt là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đang tạo cơ hội lớn khi đối tác xóa bỏ từ 97-100% dòng thuế nhập khẩu cho hàng hóa Việt Nam.
Nhận định về giai đoạn hội nhập mới, bà Hồ Thị Quyên, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại và đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh, đánh giá ngành lương thực, thực phẩm có dư địa phát triển rất rộng lớn. Tuy nhiên, bà cảnh báo các ưu đãi thuế quan sẽ không tự động chuyển hóa thành hợp đồng xuất khẩu nếu doanh nghiệp không đáp ứng đầy đủ yêu cầu khắt khe về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và bảo vệ môi trường. Theo bà, nếu trước kia các doanh nghiệp chủ yếu cạnh tranh bằng giá bán, thì hiện nay yếu tố quyết định sức cạnh tranh lại nằm ở chất lượng chuỗi sản xuất và mức độ minh bạch của toàn bộ quá trình tạo ra sản phẩm.
Phân tích về bài toán kinh tế, ông Nguyễn Lý Trường An, Phó Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn vận chuyển thương mại Biển Xanh, cho biết dù xuất siêu lớn nhưng giá trị gia tăng doanh nghiệp Việt giữ lại còn khiêm tốn. Ông dẫn chứng năm 2025, ngành nông, lâm, thủy sản đạt kim ngạch hơn 70 tỷ USD, chiếm gần 15% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước và xuất siêu khoảng 21 tỷ USD. Tuy vậy, ông chỉ rõ cơ cấu sản phẩm đang là điểm nghẽn lớn khi tỷ lệ chế biến sâu mới đạt 23%. Đáng lo ngại là có tới 91% cà phê xuất khẩu nguyên liệu thô, chăn nuôi dừng lại ở sơ chế, trong khi rau quả sau thu hoạch thất thoát 20% đến 30% do hạn chế về công nghệ bảo quản.
Những điểm nghẽn về cơ cấu đã dẫn đến nghịch cảnh mà bà Nguyễn Lê Gia Khánh, Quản lý Tài khoản cấp cao Amazon Global Selling Việt Nam, gọi là gã khổng lồ vô hình. Bà cho biết Việt Nam đứng đầu thế giới về xuất khẩu tiêu, điều và đứng nhì về cà phê. Thế nhưng, một gia đình Mỹ tại San Francisco dùng cà phê, tiêu, trà và điều Việt Nam suốt ngày mà không hề biết xuất xứ. Bà khẳng định do xây dựng kênh phân phối thực địa tại các thị trường lớn rất tốn kém, doanh nghiệp chọn đứng sau thương hiệu khác. Do đó, chúng ta phải gánh chịu bốn số không: không thương hiệu riêng, không gốc, không khách và không lợi nhuận.
Quản trị chuỗi giá trị nhằm làm chủ thương hiệu Việt
Để vượt qua rào cản kỹ thuật, Thạc sĩ Trần Thị Phương Hoa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh, nhận định thương mại toàn cầu đang dịch chuyển theo hướng bền vững. Khách hàng quốc tế đòi hỏi sự minh bạch từ vùng nguyên liệu đến trách nhiệm xã hội. Bà khuyến cáo doanh nghiệp chuyển từ đầu tư đơn lẻ sang quản trị chuỗi giá trị, đẩy mạnh liên kết để chia sẻ chi phí kho lạnh và phòng kiểm nghiệm.
Đánh giá về nền tảng sản xuất, ông Ngô Xuân Chinh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp, khẳng định chế biến sâu chỉ bền vững khi dựa trên vùng nguyên liệu đạt chuẩn và nông nghiệp tuần hoàn. Thay vì chạy theo sản lượng, cần tổ chức sản xuất theo chuỗi, sử dụng hiệu quả tài nguyên và giảm phát thải. Ông đề nghị đẩy mạnh chuyển giao công nghệ mới và đào tạo kỹ thuật giúp nông dân nâng cao năng suất, chất lượng.
Bàn về chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị, Tiến sĩ Hoàng Văn Việt, giảng viên Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, nhấn mạnh ba chuyển dịch lớn. Thứ nhất là chuyển từ số lượng sang giá trị, hướng tới thị trường chấp nhận giá cao. Thứ hai là chứng minh sản phẩm xanh sạch thông qua công nghệ truy xuất nguồn gốc. Thứ ba là chuyển từ giao dịch đơn lẻ sang liên kết theo chuỗi có trách nhiệm, kiểm soát xuyên suốt từ vùng nguyên liệu đến chế biến sâu và thương hiệu.
Ở góc độ phân phối, bà Nguyễn Lê Gia Khánh, Quản lý Tài khoản cấp cao Amazon Global Selling Việt Nam, khẳng định thương mại điện tử là đường ngắn nhất để bán thẳng tới hơn 200 quốc gia. Để chinh phục thị trường khó tính, sản phẩm phải tuân thủ chuẩn FDA Mỹ hay EC 178 châu Âu, đạt chứng nhận hữu cơ để tăng 13,3% doanh thu. Doanh nghiệp nên tận dụng dịch vụ hoàn thiện đơn hàng FBA và đăng ký bảo hộ thương hiệu tại Mỹ để tự chủ lợi nhuận.
Định vị lại mục tiêu toàn ngành, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Tổng Giám đốc Tập đoàn Nafoods Group, nhấn mạnh thách thức hiện nay không phải là xuất khẩu được bao nhiêu mà là giữ lại được bao nhiêu giá trị. Ông cho rằng doanh nghiệp bắt buộc chuyển từ bán nguyên liệu sang phát triển sản phẩm chế biến sâu có giá trị gia tăng cao. Đồng thời, ông kiến nghị nhà nước cần chuyển trọng tâm từ hỗ trợ sản xuất sang tiêu chuẩn hóa và thị trường hóa.
Ở góc nhìn vĩ mô, ông Trần Ngọc Liêm, Giám đốc VCCI chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, khẳng định cần chuyển mạnh từ tư duy sản xuất sang kinh tế nông nghiệp đa giá trị. Để đến năm 2030 có doanh nghiệp mạnh dẫn dắt chuỗi toàn cầu, cần môi trường đầu tư đồng bộ. Ông kiến nghị quy hoạch ổn định vùng nguyên liệu, mở rộng gói tín dụng ưu đãi và bảo vệ thị trường trong nước trước tình trạng hàng lậu.





