Nhà bác học kiệt xuất của Việt Nam được UNESCO vinh danh, là người duy nhất được lấy tên đặt cho 9 trường THPT chuyên
Ông được người đời mệnh danh là “túi khôn của thời đại”, cho thấy sự uyên bác và tầm ảnh hưởng sâu rộng của ông trong xã hội đương thời.
Người được mệnh danh là “túi khôn của thời đại”
Lê Quý Đôn sinh ra tại làng Diên Hà, nay thuộc xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên trong một gia đình có truyền thống khoa bảng. Thân phụ của ông là Lê Trọng Thứ, đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1724), từng giữ chức Thượng thư Bộ Hình. Ngay từ thuở nhỏ, Lê Quý Đôn đã bộc lộ tư chất thông minh, ham học.
Phan Huy Chú ghi nhận: “Năm 12 tuổi, ông học khắp kinh, truyện, các sử, các sách của bách gia chư tử, không sách nào là không thông suốt” (Phan Huy Chú, "Lịch triều hiến chương loại chí", tập I, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2006, tr.465).
Theo nhiều tư liệu, trong lịch sử trung đại Việt Nam, hiếm có vị quan nào đảm nhiệm nhiều chức vụ và liên tục được trọng dụng như Lê Quý Đôn. Từ vị trí Thị thư, ông được giao tham gia Toản tu tại Quốc sử quán, sau đó lần lượt đảm nhiệm hàng loạt chức vụ quan trọng như Thừa chỉ Viện Hàn lâm, Học sĩ Bí thư các, Hàn lâm viện Thị giảng, Tư nghiệp Quốc Tử Giám, Hữu thị lang bộ Hộ kiêm Thiêm đô Ngự sử, Tả thị lang bộ Lại kiêm Tổng tài Quốc sử quán, Thị lang bộ Hộ kiêm Đô ngự sử, Thượng thư bộ Công, thậm chí giữ quyền Phủ sự với vị trí tương đương Tể tướng. Ông cũng nhiều lần được điều động về địa phương với các vai trò như Lưu thủ, Đốc đồng, Tham chính, Hiệp trấn, Tham tán quân cơ.
Trong suốt cuộc đời làm quan, ông được phong nhiều tước hiệu như Dĩnh Thành bá, Nghĩa Phái hầu, Dĩnh Thành hầu và sau khi qua đời được truy tặng Dĩnh Quận công. Không chỉ đảm nhiệm nhiều chức vụ, Lê Quý Đôn còn tham gia sâu rộng vào nhiều lĩnh vực hoạt động của triều đình và đời sống xã hội, từ xây dựng pháp chế, biên soạn quốc sử, khảo cứu thư tịch, sáng tác văn học đến tham gia dẹp loạn, kiểm tra hộ khẩu, thuế khóa, tổ chức sản xuất, thanh tra tình trạng nhũng nhiễu của quan lại, khảo sát đời sống nhân dân và giữ vai trò chủ khảo trong nhiều kỳ thi Hội.

Chân dung nhà bác học Lê Quý Đôn. Ảnh: Internet
Dấu chân của ông trải dài trên nhiều vùng miền, từ kinh thành Thăng Long đến các địa phương như Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Dương, Quảng Yên, Sơn Tây, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Lạng Sơn, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thuận Hóa. Quá trình đi nhiều, tiếp xúc rộng giúp ông tích lũy nguồn tri thức phong phú, toàn diện. Nhờ vậy, Lê Quý Đôn được người đời mệnh danh là “túi khôn của thời đại”, đồng thời lưu truyền câu nói “Thiên hạ vô tri vấn Bảng Đôn”, cho thấy sự uyên bác và tầm ảnh hưởng sâu rộng của ông trong xã hội đương thời.
Hoạt động trong bối cảnh đất nước có nhiều biến động, Lê Quý Đôn sớm nhận ra những hạn chế của bộ máy triều Lê - Trịnh và nuôi dưỡng khát vọng cải cách. Với vốn hiểu biết thực tiễn cùng kinh nghiệm tích lũy qua nhiều vị trí công tác, ông đã đưa ra không ít đề xuất nhằm cải thiện tình hình. Nhờ tài năng và sự linh hoạt, ông nhận được sự tin dùng của các chúa Trịnh như Trịnh Doanh, Trịnh Sâm, tạo điều kiện để các kiến nghị được tiếp nhận và triển khai, góp phần ổn định xã hội.

Khu lưu niệm Danh nhân văn hoá Lê Quý Ðôn ở thôn Ðồng Phú, xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên. Ảnh: TL/Công luận
Kho tàng đồ sộ để lại cho hậu thế
Với trí tuệ uyên bác, Lê Quý Đôn để lại cho hậu thế khoảng 40 bộ sách bao quát nhiều lĩnh vực tri thức đương thời như lịch sử, địa lý, văn học, triết học, kinh tế, nông học… Các công trình của ông không chỉ có giá trị học thuật mà còn mang ý nghĩa văn hóa, giáo dục sâu sắc.
Ở lĩnh vực văn học, có thể kể đến “Toàn Việt thi lục” và “Quế đường thi tập”. Trong sử học, các tác phẩm tiêu biểu gồm “Đại Việt thông sử”, “Phủ biên tạp lục”, “Kiến văn tạp lục”, “Bắc sử thông lục”. Về triết học có “Thư kinh diễn nghĩa”, “Dịch kinh phu thuyết”, “Xuân thu lược luận”, “Quân thư khảo biện”. Trong lĩnh vực kinh tế, nông học, bộ “Vân đài loại ngữ” được đánh giá là công trình đồ sộ, mang tính chất như một bách khoa thư của Việt Nam.
Đặc biệt, “Đại Việt thông sử” gồm 30 quyển, ghi chép hơn một thế kỷ lịch sử triều Lê, cung cấp nhiều tư liệu quý mà các bộ sử khác không đề cập. Tác phẩm không chỉ có giá trị về nội dung mà còn thể hiện phương pháp nghiên cứu sử học mang tính hệ thống. Khi biên soạn, ông từng đúc kết: “Phép làm sử là phải nhặt đủ, không bỏ sót để cho người ta sau khi mở sách ra xem rõ được manh mối, biết được đầu đuôi, tuy không tận mắt thấy tai nghe mà rõ ràng như chính mình được thấy”.

Hình ảnh một số tác phẩm của Lê Quý Đôn. Ảnh: Internet
Trong lĩnh vực văn học, “Toàn Việt thi lục” gồm 6 quyển, tuyển chọn 897 bài thơ của 73 tác giả từ thời Lý đến thời Lê Tương Dực (1509-1516), được xem là công trình sưu tầm quy mô lớn. Bên cạnh đó, ông còn để lại nhiều tác phẩm khác như “Hoàng Việt văn hải”, “Quế Đường thi văn tập”, đồng thời có đóng góp đáng kể trong các lĩnh vực ngôn ngữ học, dân tộc học, nhân học và địa lý học.
Với những đóng góp toàn diện trên nhiều phương diện, Lê Quý Đôn được nhìn nhận là một trong những nhà bác học tiêu biểu của Việt Nam thời phong kiến, để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử học thuật và văn hóa dân tộc.
Ngày 31/10/2025, tại Kỳ họp lần thứ 43 Đại hội đồng Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) tổ chức ở thành phố Samarkand, Cộng hòa Uzbekistan, nghị quyết vinh danh và cùng tham gia kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn đã được thông qua.
Tên tuổi của ông không chỉ được lưu giữ trong sử sách mà còn hiện diện qua hệ thống các cơ sở giáo dục mang tên Lê Quý Đôn trên cả nước. Hiện có khoảng 40 ngôi trường mang tên danh nhân này.
Đặc biệt, ông là người duy nhất ở Việt Nam được lấy tên để đặt cho 9 trường trung học phổ thông chuyên trên cả nước. Đây đều là những cơ sở giáo dục có thành tích nổi bật trong giảng dạy và học tập, thường xuyên đạt kết quả cao tại các kỳ thi học sinh giỏi cấp quốc gia và quốc tế.
Di sản của Lê Quý Đôn không chỉ dừng lại trong phạm vi quốc gia mà còn lan tỏa ra khu vực và thế giới. Phần lớn trước tác của ông được viết bằng chữ Hán, trở thành nguồn tài liệu tham khảo trực tiếp cho nhiều nghiên cứu tại Đông Á. Các công trình này cùng nhiều bài nghiên cứu liên quan đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ, góp phần đưa giá trị học thuật và văn hóa của Lê Quý Đôn đến với cộng đồng quốc tế.
Bài viết có sử dụng thông tin tham khảo từ các nguồn:
- Lê Quý Đôn - nhà bác học toàn năng - Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
- Lê Quý Đôn - nhà bác học uyên bác của Việt Nam - Báo Quân đội Nhân dân
- UNESCO thông qua nghị quyết vinh danh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn - Báo Điện tử Chính phủ
- Vinh danh nhà bác học Lê Quý Đôn - Báo Pháp luật Việt Nam