Nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong chính quyền địa phương hai cấp ở Lào Cai

Tiêu điểm 20/05/2026 10:12

Việc vận hành chính quyền địa phương hai cấp đặt chuyển đổi số vào vị trí một điều kiện bảo đảm cho phân cấp, phân quyền được thực hiện thông suốt, hiệu lực và hiệu quả. Trên cơ sở số liệu sơ kết một năm vận hành mô hình mới của tỉnh Lào Cai, bài viết đánh giá những kết quả bước đầu, làm rõ các vấn đề còn đặt ra về hạ tầng, dữ liệu liên thông, năng lực số của đội ngũ cấp xã, mức độ tự chủ số của người dân, doanh nghiệp và an toàn thông tin. Từ đó, bài viết đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả chuyển đổi số, hướng tới quản trị số thực chất, lấy cấp xã, dữ liệu và trải nghiệm phục vụ làm trọng tâm.

chuyen-doi-so_1784269041.jpg
Lào Cai nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong chính quyền địa phương hai cấp

 

1. Chuyển đổi số - điều kiện vận hành chính quyền địa phương hai cấp

Tổ chức chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là việc giảm một cấp trung gian, mà còn làm thay đổi phương thức quản trị ở địa phương. Trong mô hình mới, cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra cấp xã; còn cấp xã vừa là cấp gần dân nhất, vừa phải xử lý nhiều hơn các vấn đề hành chính, dân sinh và phát triển. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng cho quá trình này, trong đó việc phân định thẩm quyền giữa cấp tỉnh và cấp xã phải bảo đảm thông suốt, hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với điều kiện thực tiễn.

Cùng với các quy định về phân cấp, phân quyền và phân định thẩm quyền trong nhiều ngành, lĩnh vực, chuyển đổi số không còn là một nhiệm vụ kỹ thuật đứng riêng, mà trở thành hạ tầng vận hành của bộ máy mới. Nếu dữ liệu không thông, quy trình chưa được số hóa thực chất, công chức cấp xã chưa đủ năng lực vận hành hệ thống điện tử, người dân và doanh nghiệp còn khó tiếp cận dịch vụ công trực tuyến, việc phân quyền dễ rơi vào tình trạng “quyền đã chuyển xuống nhưng năng lực thực thi chưa theo kịp”.

Đối với Lào Cai, yêu cầu đó càng rõ nét khi tỉnh đồng thời thực hiện hợp nhất không gian hành chính trên cơ sở hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái trước đây và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Sau sắp xếp, toàn tỉnh có 99 xã, phường, gồm 89 xã và 10 phường; dân số gần 1,8 triệu người, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 57,6%; có 47 xã vùng III đặc biệt khó khăn. Không gian phát triển rộng, địa hình miền núi, biên giới, dân cư phân tán và sự chênh lệch giữa đô thị trung tâm với vùng sâu, vùng cao khiến chuyển đổi số ở Lào Cai không thể chỉ được đo bằng số phần mềm, đường truyền hay tỷ lệ hồ sơ trực tuyến. Điều quan trọng hơn là năng lực phục vụ người dân trong từng điều kiện địa bàn cụ thể.

Thực tiễn năm đầu vận hành cho thấy tỉnh đã đạt nhiều kết quả quan trọng trong cải cách hành chính và xây dựng chính quyền số. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng bộc lộ khoảng cách giữa chỉ tiêu và trải nghiệm thực tế; giữa việc có nền tảng số với khả năng khai thác dữ liệu; giữa yêu cầu phân quyền với năng lực thực thi ở cơ sở. Đánh giá đầy đủ kết quả và những vấn đề còn đặt ra là cơ sở để đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương hai cấp trong giai đoạn mới.

2. Kết quả bước đầu và những vấn đề đặt ra

2.1. Nền tảng vận hành số từng bước được thiết lập

Lào Cai đã có sự chuẩn bị khá quyết liệt cho bộ máy mới. Sau sắp xếp, tỉnh thiết lập 99 Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã, 297 phòng chuyên môn ở cấp xã và bảo đảm các phòng chuyên môn, tổ chức hành chính thuộc 99 xã, phường đi vào hoạt động. Tỉnh cũng thành lập 13 tổ công tác với 43 thành viên do lãnh đạo sở, ban, ngành làm tổ trưởng để trực tiếp hướng dẫn, tư vấn, tháo gỡ khó khăn cho cấp xã trong giai đoạn đầu. Điều đó cho thấy chuyển đổi số được đặt trong tổng thể tổ chức lại bộ máy, cải cách hành chính và phân cấp, phân quyền.

Nền tảng dịch vụ công trực tuyến được mở rộng rõ rệt. Đến hết năm 2025, toàn tỉnh có 2.105/2.195 thủ tục hành chính đủ điều kiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến; trong đó 810 thủ tục thực hiện toàn trình, 1.298 thủ tục thực hiện một phần. Tỷ lệ hồ sơ nộp trực tuyến đạt 86,8%; tỷ lệ thanh toán trực tuyến đạt 91,25%; tỷ lệ số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính đạt 90,82%; tỷ lệ khai thác, tái sử dụng dữ liệu đạt 88,06%. Đây là những chỉ số tích cực, phản ánh nỗ lực lớn của các cơ quan và đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình chuyển đổi phương thức làm việc.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cũng được triển khai khá sớm. Từ ngày 01/7/2025 đến thời điểm báo cáo, tỉnh đã tổ chức 19 lớp cho 4.615 cán bộ, công chức, viên chức. Nội dung không chỉ gồm bồi dưỡng ngạch, thi đua - khen thưởng, tài chính, tài sản mà còn có nghiệp vụ quản lý văn bản điện tử, văn phòng HĐND và UBND cấp xã, phòng kinh tế, văn hóa - xã hội và phục vụ hành chính công. Kết quả này tạo nền tảng ban đầu cho việc hình thành năng lực công vụ trong môi trường số.

2.2. Chuyển đổi số chưa đồng đều giữa các vùng, các loại hình địa bàn

Đằng sau các chỉ số bình quân của tỉnh là mức độ sẵn sàng số khác nhau giữa các khu vực. Địa bàn đô thị có lợi thế hơn về hạ tầng, nhân lực, thiết bị thông minh và thói quen giao dịch hành chính, nhưng lại chịu áp lực lớn về khối lượng hồ sơ, tốc độ xử lý và yêu cầu liên thông dữ liệu chuyên ngành. Trong khi đó, ở khu vực nông thôn, vùng cao, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và biên giới, khó khăn thường tập trung ở chất lượng đường truyền, mức độ đồng bộ của thiết bị, khả năng bố trí nhân lực chuyên môn và kỹ năng sử dụng dịch vụ số của người dân.

Sự khác biệt này cho thấy một chỉ tiêu chung có thể tạo ra yêu cầu và áp lực rất khác nhau đối với từng loại hình địa bàn. Ở nơi có khối lượng giao dịch lớn, yêu cầu trọng tâm là dữ liệu sạch, liên thông ổn định và quy trình xử lý nhanh. Ở địa bàn dân cư phân tán, chuyển đổi số trước hết phải bảo đảm nền vận hành tối thiểu gồm thiết bị, kết nối, cán bộ hướng dẫn, quy trình dễ thực hiện và cơ chế hỗ trợ kỹ thuật kịp thời. Càng ở những nơi người dân phải đi lại xa, dịch vụ công trực tuyến càng có ý nghĩa, nhưng điều kiện tiếp cận công nghệ lại thường hạn chế hơn.

Do đó, nâng cao hiệu quả chuyển đổi số không thể chỉ dựa trên việc giao cùng một bộ chỉ tiêu cho mọi địa bàn. Tỉnh cần duy trì mục tiêu thống nhất nhưng có lộ trình, mức độ ưu tiên và phương thức hỗ trợ phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, địa lý, dân cư và năng lực tổ chức thực hiện của từng nhóm địa bàn. Cách tiếp cận phân tầng sẽ giúp nguồn lực được đầu tư đúng trọng tâm, đồng thời bảo đảm người dân ở khu vực khó khăn không bị bỏ lại phía sau trong quá trình chuyển đổi số.

2.3. Dữ liệu chưa thật sự trở thành nền tảng quản trị

Tỷ lệ số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính đạt 90,82% và tỷ lệ khai thác, tái sử dụng dữ liệu đạt 88,06% là kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, số hóa hồ sơ và quản trị bằng dữ liệu là hai cấp độ khác nhau. Số hóa có thể mới dừng ở việc đưa hồ sơ giấy lên môi trường điện tử; còn quản trị bằng dữ liệu đòi hỏi dữ liệu phải đúng, đủ, sạch, có cấu trúc, được kết nối, phân quyền khai thác và tái sử dụng trong xử lý hồ sơ, tham mưu chính sách, dự báo vấn đề phát sinh.

Trong thực tế cấp xã, dữ liệu về đất đai, hộ tịch, cư trú, bảo trợ xã hội, người có công, y tế, giáo dục, tài chính, xây dựng, nông nghiệp và môi trường thường nằm ở nhiều phần mềm, nhiều ngành và có chu kỳ cập nhật khác nhau. Khi phần mềm chuyên ngành chưa kết nối với hệ thống dịch vụ công, công chức phải nhập dữ liệu nhiều lần; khi dữ liệu chưa đồng nhất, người dân vẫn phải bổ sung giấy tờ đã từng cung cấp. Công cụ số khi đó mới tạo ra “bề mặt điện tử”, chưa làm thay đổi tận gốc quy trình và thậm chí có thể làm tăng thao tác của công chức.

Vấn đề dữ liệu còn gắn với trách nhiệm giải trình. Nếu thông tin trên hệ thống không thống nhất với hồ sơ thực tế, kết quả xử lý không được cập nhật kịp thời hoặc không xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm đối với từng trường dữ liệu, cấp xã khó theo dõi tiến độ, đánh giá chất lượng công vụ và phát hiện điểm nghẽn. Mô hình càng tinh gọn càng cần dữ liệu để bù đắp cho việc giảm tầng nấc trung gian; nói cách khác, dữ liệu chưa thông thì chính quyền hai cấp cũng khó vận hành thông suốt.

2.4. Dịch vụ công trực tuyến tăng nhưng mức độ tự chủ số chưa tương xứng

Từ góc nhìn phục vụ, câu hỏi quan trọng không chỉ là có bao nhiêu hồ sơ được nộp trực tuyến, mà còn là ai thực hiện thao tác đó; người dân có hiểu quy trình, tự theo dõi trạng thái hồ sơ và nhận kết quả điện tử hay không; có phải quay lại nộp bản giấy hoặc nhờ cán bộ làm thay hay không. Nếu phần lớn hồ sơ trực tuyến vẫn do cán bộ tại Trung tâm Phục vụ hành chính công nhập hộ, chỉ số trực tuyến phản ánh nỗ lực của bộ máy nhiều hơn là năng lực tự phục vụ của xã hội.

Đây là vấn đề đặc biệt đáng lưu ý ở tỉnh miền núi có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao, dân cư phân tán và trình độ sử dụng thiết bị số không đồng đều. Một bộ phận người dân vẫn có tâm lý đến trực tiếp “cho chắc”, muốn cầm giấy tờ hoặc gặp cán bộ để được hướng dẫn; trong khi thao tác xác thực, tải hồ sơ và thanh toán trực tuyến còn gây e ngại. Hộ kinh doanh nhỏ, hợp tác xã và doanh nghiệp siêu nhỏ ở nông thôn cũng có mức độ sẵn sàng khác nhau. Bởi vậy, cần phân biệt ba tầng kết quả: có dịch vụ công trực tuyến; có hồ sơ trực tuyến; và người dân, doanh nghiệp tự thực hiện thuận tiện. Tầng thứ ba mới phản ánh đầy đủ chất lượng xã hội số.

2.5. Năng lực số chuyên sâu của đội ngũ cấp xã còn mỏng

Yêu cầu đối với công chức cấp xã hiện nay đã vượt xa kỹ năng tin học văn phòng. Họ phải hiểu quy trình điện tử, biết khai thác dữ liệu, hướng dẫn người dân, xử lý lỗi phát sinh, phối hợp liên ngành và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Trong khi đó, đào tạo diện rộng mới tạo nền tảng ban đầu; nhu cầu thực tế đòi hỏi bồi dưỡng theo vị trí việc làm và tình huống công vụ. Công chức một cửa cần năng lực khác công chức đất đai, tư pháp, tài chính, văn hóa - xã hội; lãnh đạo cấp xã cần biết đọc báo cáo số, theo dõi chỉ số, giao việc và kiểm soát tiến độ trên nền tảng số.

Nhân lực công nghệ thông tin ở cấp xã nhìn chung còn mỏng so với yêu cầu vận hành đồng thời nhiều hệ thống và thực hiện các nhiệm vụ mới được phân cấp. Một biểu hiện dễ thấy là khi phần mềm gặp lỗi, cần tổng hợp dữ liệu, ký số, số hóa hồ sơ hoặc hướng dẫn công dân, công việc thường dồn vào một vài cá nhân “biết công nghệ”. Cách vận hành này có thể giải quyết tình thế nhưng không bền vững, dễ gây gián đoạn khi cán bộ thay đổi vị trí hoặc khối lượng công việc tăng. Năng lực số vì thế phải trở thành năng lực công vụ phổ biến của toàn bộ đội ngũ, thay vì năng lực riêng của cán bộ phụ trách công nghệ thông tin.

2.6. Hạ tầng, phần mềm và an toàn thông tin còn những “độ vênh”

Quy trình số chỉ vận hành hiệu quả khi thiết bị đủ, đường truyền ổn định, phần mềm thân thiện, chữ ký số thông suốt và hỗ trợ kỹ thuật kịp thời. Nghịch lý hiện nay là những nơi cần dịch vụ công trực tuyến nhất để giảm chi phí đi lại cho người dân - như xã vùng cao, vùng biên giới - thường lại khó khăn hơn về kết nối, thiết bị, kỹ năng số và khả năng hỗ trợ trực tiếp. Vì vậy, đầu tư hạ tầng không thể hiểu hẹp là mua thêm máy tính, mà phải làm cho toàn bộ chuỗi tiếp nhận, xử lý, ký số, thanh toán, trả kết quả, lưu trữ và tái sử dụng dữ liệu hoạt động như một quy trình thống nhất.

Chuyển đổi số càng sâu, rủi ro an toàn thông tin và lộ lọt dữ liệu cá nhân càng lớn. Cấp xã trực tiếp xử lý nhiều dữ liệu nhạy cảm về cư trú, hộ tịch, đất đai, an sinh xã hội, y tế, giáo dục và phản ánh của người dân. Vì vậy, bên cạnh quy chế, phần mềm bảo vệ và cơ chế hỗ trợ kỹ thuật, an toàn thông tin cần trở thành thói quen công vụ hằng ngày: quản lý tài khoản, khóa màn hình, không dùng chung mật khẩu, không gửi hồ sơ cá nhân qua nhóm không chính thức, sao lưu dữ liệu, nhận diện lừa đảo và báo cáo sự cố kịp thời. Đây không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn là trách nhiệm và đạo đức công vụ trong môi trường số.

hanh-chinh_1784269318.jpg
Chuyển đổi số toàn diện trong chính quyền địa phương hai cấp ở Lào Cai

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả chuyển đổi số ở cấp cơ sở

3.1. Tổ chức chuyển đổi số theo hướng phân tầng địa bàn

Lào Cai cần duy trì mục tiêu chung về chính quyền số nhưng phân tầng rõ cách thức tổ chức thực hiện. Với phường đô thị trung tâm, trọng tâm là liên thông dữ liệu, quản trị đô thị số, giảm thời gian xử lý hồ sơ phức tạp và nâng chất lượng phục vụ doanh nghiệp. Với xã nông thôn, trung du, cần củng cố thiết bị, đường truyền, quy trình một cửa, năng lực hướng dẫn người dân và xử lý các thủ tục phổ biến. Vùng hồ cần gắn chuyển đổi số với du lịch, dịch vụ, truyền thông cộng đồng và kinh tế số hộ gia đình. Vùng cao biên giới cần ưu tiên hạ tầng nền, wifi cộng đồng, điểm hỗ trợ dịch vụ công, ngôn ngữ hướng dẫn dễ hiểu và an toàn thông tin cơ bản.

Cách làm phân tầng không phải hạ thấp yêu cầu đối với địa bàn khó khăn, mà là xác định đúng thứ tự ưu tiên và lộ trình. Chuyển đổi số bao trùm phải bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội tiếp cận các dịch vụ công thiết yếu trên môi trường số, dù sinh sống ở trung tâm hay vùng biên giới.

3.2. Coi dữ liệu là tài sản quản trị

Tỉnh cần ưu tiên làm sạch, chuẩn hóa, kết nối và tái sử dụng dữ liệu trong các lĩnh vực tác động trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp như đất đai, hộ tịch, cư trú, bảo trợ xã hội, người có công, đăng ký kinh doanh, xây dựng, y tế và giáo dục. Nguyên tắc cần nhất quán là: thông tin cơ quan nhà nước đã có thì không yêu cầu người dân cung cấp lại; hồ sơ đã số hóa phải được dùng lại; quy trình đã điện tử hóa phải hạn chế tối đa thao tác nhập lại.

Cùng với đó, cần thiết lập cơ chế trách nhiệm dữ liệu, xác định rõ đơn vị quản lý, người cập nhật, thời hạn cập nhật, tiêu chuẩn chất lượng, cơ chế chia sẻ và yêu cầu bảo mật đối với từng nhóm dữ liệu. Khi dữ liệu được quản trị tốt, cấp xã sẽ bớt phụ thuộc vào hỏi - đáp thủ công, còn cấp tỉnh có căn cứ chính xác hơn để theo dõi, hỗ trợ và kiểm tra cơ sở.

3.3. Đào tạo năng lực số theo vị trí việc làm

Công tác bồi dưỡng cần chuyển mạnh từ phổ cập chung sang đào tạo theo vai trò. Lãnh đạo cấp xã cần được trang bị năng lực quản trị dữ liệu, điều hành trên hệ thống, đọc chỉ số, kiểm soát tiến độ và ra quyết định dựa trên dữ liệu. Công chức một cửa cần được đào tạo sâu về tiếp nhận hồ sơ trực tuyến, hướng dẫn người dân, thanh toán trực tuyến, trả kết quả điện tử và xử lý lỗi thường gặp. Công chức chuyên môn cần được bồi dưỡng theo phần mềm ngành, quy trình liên thông, tiêu chuẩn dữ liệu và an toàn thông tin. Tổ công nghệ số cộng đồng cần có kỹ năng truyền đạt đơn giản, hỗ trợ từng nhóm dân cư và xử lý các tình huống phổ biến.

Trường Chính trị tỉnh Lào Cai có thể tham gia sâu hơn thông qua các chuyên đề về chính quyền số ở cơ sở, quản trị dữ liệu trong chính quyền địa phương hai cấp, đạo đức công vụ trên môi trường số, kỹ năng phục vụ người dân và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Lợi thế của nhà trường là kết hợp lý luận quản lý nhà nước với tình huống thực tiễn địa phương, giúp công chức không chỉ biết thao tác mà còn hiểu mục tiêu của việc thay đổi phương thức làm việc.

3.4. Thiết kế dịch vụ công từ trải nghiệm của người dùng

Dịch vụ công trực tuyến cần được thiết kế từ nhu cầu và khả năng của người sử dụng, không chỉ từ logic quản lý của cơ quan nhà nước. Với người dân miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số, người cao tuổi và hộ kinh doanh nhỏ, giao diện phức tạp cùng ngôn ngữ hành chính khó hiểu là những rào cản lớn. Vì vậy, cần tăng cường video ngắn, mã QR, sơ đồ quy trình, mẫu hồ sơ minh họa, câu hỏi thường gặp và các kênh hỗ trợ có kiểm soát.

Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã cần chuyển dần từ “làm thay” sang “hướng dẫn để người dân tự làm được”. Trong giai đoạn đầu, sự hỗ trợ trực tiếp vẫn cần thiết; nhưng về lâu dài, thành công phải được đo bằng tỷ lệ người dân tự thực hiện thủ tục phổ biến, tự theo dõi trạng thái hồ sơ, tự nhận kết quả điện tử và tự phản ánh khi có vướng mắc.

3.5. Đo lường chuyển đổi số bằng chất lượng phục vụ

Bên cạnh tỷ lệ hồ sơ trực tuyến, thanh toán trực tuyến, số hóa hồ sơ và tái sử dụng dữ liệu, tỉnh nên bổ sung các chỉ số phản ánh trải nghiệm thực tế: số lần người dân phải đi lại; tỷ lệ hồ sơ không phải bổ sung; tỷ lệ hồ sơ do người dân tự thực hiện trực tuyến; thời gian thực tế từ tiếp nhận đến trả kết quả; mức độ hài lòng; tỷ lệ hồ sơ dùng lại dữ liệu sẵn có; số thao tác trùng lặp mà công chức phải thực hiện; số sự cố an toàn thông tin được phát hiện và xử lý.

Khi đo bằng trải nghiệm của người dân, doanh nghiệp và mức độ giảm tải cho công chức, cơ quan quản lý sẽ biết điểm nghẽn nằm ở quy trình, phần mềm, dữ liệu, kỹ năng hay hạ tầng. Đây cũng là cách chuyển trọng tâm từ hoàn thành chỉ tiêu kỹ thuật sang nâng cao chất lượng phục vụ, phù hợp với yêu cầu giải quyết thủ tục hành chính không phụ thuộc vào địa giới hành chính.

3.6. Siết chặt kỷ luật an toàn thông tin ở cấp xã

Cần ban hành và thực hiện nghiêm quy chế sử dụng tài khoản, chữ ký số, thư điện tử công vụ, thiết bị lưu trữ, phần mềm chống mã độc, sao lưu dữ liệu, chia sẻ văn bản và xử lý sự cố. Việc tập huấn nên dựa trên tình huống cụ thể như nhận diện tin nhắn giả mạo, không chia sẻ mã OTP, không dùng chung tài khoản, xử lý khi máy tính nhiễm mã độc, báo cáo khi thất lạc thiết bị và phân biệt tài liệu công khai với tài liệu hạn chế. Mỗi công chức cấp xã cần nhận thức rằng bảo vệ dữ liệu của người dân là một bộ phận của đạo đức công vụ trong môi trường số.

4. Kết luận

Chuyển đổi số là điều kiện không thể thiếu để chính quyền địa phương hai cấp ở Lào Cai vận hành thông suốt, gần dân và hiệu quả. Kết quả bước đầu rất đáng ghi nhận: bộ máy cấp xã và các Trung tâm Phục vụ hành chính công đã đi vào hoạt động; dịch vụ công trực tuyến được mở rộng; tỷ lệ thanh toán trực tuyến, số hóa hồ sơ và khai thác dữ liệu tăng; công tác bồi dưỡng đội ngũ và cơ chế hỗ trợ cơ sở được triển khai tích cực. Tuy nhiên, hiệu quả chuyển đổi số vẫn có thể được nâng lên rõ rệt nếu tiếp tục khắc phục tình trạng hạ tầng chưa đồng đều, dữ liệu chưa liên thông thực chất, năng lực số chuyên sâu còn mỏng, người dân chưa thật sự tự chủ khi sử dụng dịch vụ công và kỷ luật an toàn thông tin chưa đồng đều.

Trong giai đoạn tới, cấp xã cần được xác định là trọng tâm của chính quyền số; người dân và doanh nghiệp là thước đo cuối cùng; dữ liệu là nền tảng quản trị; năng lực số của công chức là năng lực công vụ cốt lõi; an toàn thông tin là kỷ luật bắt buộc. Khi những nguyên tắc đó được cụ thể hóa bằng đầu tư phân tầng, đào tạo theo vị trí việc làm, dịch vụ công dễ sử dụng và hệ thống chỉ số dựa trên trải nghiệm thực tế, chuyển đổi số sẽ thực sự trở thành phương thức quản trị mới, góp phần xây dựng chính quyền địa phương hai cấp ở Lào Cai tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả và phục vụ Nhân dân ngày càng tốt hơn.

Tài liệu tham khảo

1. Quốc hội (2025), Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.

2. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

3. Chính phủ (2025), Các văn bản về phân cấp, phân quyền và phân định thẩm quyền khi tổ chức chính quyền địa phương hai cấp.

4. Bộ Khoa học và Công nghệ (2025), Quyết định số 757/QĐ-BKHCN ngày 29/4/2025.

5. Đảng ủy UBND tỉnh Lào Cai (2026), Báo cáo sơ kết 01 năm vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 02 cấp trên địa bàn tỉnh Lào Cai.

Ths.Nguyễn Thị Mai
Trường Chính trị tỉnh Lào Cai
Tin đáng đọc