Lãnh đạo Viettel hiến kế mở rộng không gian kinh tế quốc gia trong kỷ nguyên hội nhập mới

Thị Trường 27/03/2026 22:42

Từ thực tiễn tăng trưởng ấn tượng và kinh nghiệm đầu tư quốc tế, lãnh đạo Viettel đã đề xuất hàng loạt giải pháp mang tính nền tảng nhằm mở rộng không gian kinh tế quốc gia, coi đây là con đường tất yếu để Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên hội nhập mới.

tao_1774625891.jpg
Ông Tào Đức Thắng, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) phát biểu tại Hội nghị - Ảnh VGP/Nhật Bắc

Sáng 27/3, Hội nghị “Doanh nghiệp góp phần vào tăng trưởng hai con số và Thủ tướng Chính phủ tri ân doanh nghiệp” được tổ chức tại trụ sở Chính phủ dưới sự chủ trì của Thủ tướng Phạm Minh Chính.

Tại Hội nghị, ông Tào Đức Thắng, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) cho biết, quán triệt thực hiện Nghị quyết 01/NQ-CP của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, dưới sự chỉ đạo của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, ngay từ những ngày đầu năm 2026, Viettel đã chủ động triển khai đồng bộ nhiều giải pháp trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Trong quý I/2026, kết quả sản xuất kinh doanh của Tập đoàn đạt 107% kế hoạch quý, tăng trưởng 19% so với cùng kỳ năm 2025. Đáng chú ý, lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao, đạt gần 30%, đóng góp gần 60% vào tăng trưởng chung của Tập đoàn.

Nền tảng thực tiễn và cơ hội mở rộng không gian kinh tế quốc gia

Từ thực tiễn hoạt động, với góc độ một doanh nghiệp, lãnh đạo Viettel đã đề xuất một số giải pháp nhằm mở rộng không gian kinh tế quốc gia thông qua đầu tư ra nước ngoài, xuất phát từ nhiều cơ sở quan trọng.

Thứ nhất, vị thế và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế đã được nâng lên tầm cao mới. Dưới sự chỉ đạo sát sao của Đảng và Nhà nước, ngoại giao kinh tế đã trở thành một mũi nhọn chiến lược. Hình ảnh Tổng Bí thư, Thủ tướng Chính phủ cùng các lãnh đạo cấp cao thường xuyên tham gia, chủ trì các diễn đàn đa phương và song phương lớn trên thế giới, cùng với việc nhiều nguyên thủ, lãnh đạo doanh nghiệp hàng đầu quốc tế đến thăm, làm việc tại Việt Nam và các tập đoàn lớn, đã mở ra những cơ hội mới để doanh nghiệp Việt Nam tự tin vươn ra toàn cầu.

Thứ hai, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, trong đó xác định rõ nhiệm vụ “khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam đầu tư, kinh doanh có hiệu quả ở nước ngoài; xây dựng và bảo vệ các thương hiệu quốc gia đạt tầm quốc tế”. Bên cạnh đó, Nghị quyết 68-NQ/TW về kinh tế tư nhân và Nghị quyết 79-NQ/TW về kinh tế nhà nước đều đặt mục tiêu Việt Nam có doanh nghiệp thuộc tốp đầu khu vực và thế giới. Để hiện thực hóa mục tiêu này, doanh nghiệp Việt Nam buộc phải vươn tầm ra thị trường quốc tế.

Thứ ba, Việt Nam đã hình thành một số doanh nghiệp có kinh nghiệm đầu tư nước ngoài. Có thể kể đến FPT với chiến lược xuất khẩu phần mềm từ năm 1998; Petrovietnam với gần 24 năm khẳng định năng lực tại các dự án năng lượng toàn cầu; Vingroup với gần 10 năm theo đuổi định hướng xuất khẩu ô tô sang Mỹ và châu Âu; hay Viettel với hơn 20 năm đầu tư quốc tế trong lĩnh vực viễn thông và giải pháp số.

Không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế, đầu tư ra nước ngoài còn góp phần thúc đẩy đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại quốc phòng. Như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh trong chuyến thăm và làm việc tại Viettel Campuchia ngày 13/7/2024: “Đầu tư ra nước ngoài không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế, mà còn phục vụ lợi ích quốc gia về chính trị, đối ngoại, quốc phòng, góp phần nâng cao hình ảnh và vị thế của Việt Nam”.

Sáu trụ cột chiến lược và đề xuất cụ thể từ doanh nghiệp

chnh_1774625979.jpg
Thủ tướng Phạm Minh Chính tham quan gian trưng bày của Viettel tại lễ khởi công nhà máy chế tạo chip bán dẫn ngày 16/01/2026 - Ảnh: VGP/Nhật Bắc.

Trên cơ sở các phân tích nêu trên, ông Tào Đức Thắng đã làm rõ 6 nội dung mang tính nền tảng của chiến lược đầu tư ra nước ngoài.

Thứ nhất, về tư duy: cần xác định mở rộng không gian kinh tế ra quốc tế là một trụ cột quan trọng của tăng trưởng quốc gia. Đầu tư ra nước ngoài không chỉ là “đi ra”, mà còn là tổ chức nền kinh tế theo hướng hai chiều, vừa mở rộng ra bên ngoài, vừa thu hút nguồn lực toàn cầu vào Việt Nam.

Thứ hai, về không gian: bên cạnh các thị trường truyền thống, cần mở rộng sang các khu vực đang phát triển như ASEAN, Nam Á, Trung Đông, châu Phi và Mỹ Latin – những nơi phù hợp với năng lực triển khai của doanh nghiệp Việt Nam. Đồng thời, cần chủ động tiếp cận các thị trường phát triển để nâng cấp công nghệ, tiêu chuẩn, qua đó đưa Việt Nam trở thành điểm đến của dòng giá trị toàn cầu.

Thứ ba, về lĩnh vực ưu tiên: cần tập trung vào các mũi nhọn như hạ tầng chiến lược, công nghiệp công nghệ cao và các ngành dịch vụ giá trị cao có khả năng thu hút chi tiêu quốc tế.

Thứ tư, về lợi thế cạnh tranh: cần phát huy tối đa các lợi thế đặc thù của Việt Nam như nguồn nhân lực có khả năng thích ứng cao, chi phí hợp lý, năng lực triển khai thực tiễn mạnh; kinh nghiệm phát triển hạ tầng và dịch vụ trên quy mô lớn; khả năng xuất khẩu không chỉ sản phẩm mà cả mô hình; cùng với mạng lưới hội nhập sâu rộng và uy tín quốc gia ngày càng được nâng cao, đặc biệt là vị thế cân bằng trong quan hệ quốc tế.

Thứ năm, về tổ chức lực lượng: cần hình thành các tập đoàn kinh tế chủ lực đóng vai trò dẫn dắt, tổ chức doanh nghiệp vươn ra quốc tế theo mô hình hệ sinh thái. Các tổ chức này cần được xác định là “tổng thầu quốc gia”, có khả năng tích hợp, triển khai và dẫn dắt các doanh nghiệp khác tham gia theo chuỗi giá trị. Đây là mô hình đã được Nhật Bản, Hàn Quốc triển khai thành công và Trung Quốc đang áp dụng ở quy mô lớn.

Thứ sáu, về cơ chế chính sách: cần có cách tiếp cận ở tầm quốc gia. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhiều quốc gia đã xây dựng các tổ chức, công cụ hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài một cách bài bản và hiệu quả, như Nhật Bản với JETRO và JICA, Hàn Quốc với KOTRA và KOICA, hay Trung Quốc với chiến lược “Vành đai – Con đường”.

Từ các định hướng trên, lãnh đạo Viettel đề xuất 5 giải pháp cụ thể:
(1) Xây dựng Chương trình quốc gia về mở rộng không gian kinh tế ra quốc tế;
(2) Thí điểm các cơ chế đặc thù, chấp nhận rủi ro cho các tập đoàn chủ lực khi đầu tư vào công nghệ mới hoặc thị trường chiến lược;
(3) Hình thành cơ chế tài chính và bảo lãnh rủi ro cấp Chính phủ nhằm bảo vệ doanh nghiệp trước biến động địa chính trị toàn cầu;
(4) Nâng cấp vai trò hệ thống cơ quan đại diện ở nước ngoài thành đầu mối phát triển thị trường thực chất;
(5) Thường xuyên rà soát, đánh giá hiệu quả các thỏa thuận hợp tác cấp Nhà nước đã ký kết, bảo đảm tính thực chất.

Có thể khẳng định, nếu không hình thành được một cấu trúc tổ chức ở tầm quốc gia, doanh nghiệp Việt Nam sẽ tiếp tục đi ra theo cách đơn lẻ và khó có thể xây dựng năng lực cạnh tranh toàn cầu.

Mở rộng không gian kinh tế ra quốc tế vì thế không chỉ là một lựa chọn, mà là con đường tất yếu để Việt Nam bứt phá trong giai đoạn tới. “Tiên phong trong hội nhập quốc tế và đầu tư nước ngoài có hiệu quả” cũng là một trong năm nhiệm vụ “tiên phong” mà Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu doanh nghiệp nhà nước thực hiện tại Hội nghị với doanh nghiệp nhà nước vào tháng 6/2024.

Phạm Anh
Tin đáng đọc