Phê duyệt 74 huyện nghèo, 54 xã đặc biệt khó khăn

Tiêu điểm 18/03/2022 09:30

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh đã ký Quyết định số 353/QĐ-TTg phê duyệt Danh sách 74 huyện nghèo thuộc 26 tỉnh, 54 xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo thuộc 12 tỉnh giai đoạn 2021 – 2025.

Tiêu chí, định mức phân bổ vốn thực hiện Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững 2021-2025 Đẩy mạnh thực hiện các chính sách giảm nghèo bền vững
Phê duyệt 74 huyện nghèo, 54 xã đặc biệt khó khăn

Cụ thể, trong Danh sách huyện nghèo giai đoạn 2021-2025, tỉnh Hà Giang có 7 huyện nghèo, Tuyên Quang có 2 huyện, Lạng Sơn có 2 huyện, Cao Bằng có 7 huyện...

Trong 54 xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo, tỉnh Bến Tre có 21 xã, tỉnh Thanh Hóa 3 xã, tỉnh Thừa Thiên Huế 7 xã, tỉnh Cà Mau 6 xã…

Phó Thủ tướng yêu cầu căn cứ đề nghị của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tổng hợp, thẩm định, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét điều chỉnh, bổ sung danh sách các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo.

Tiêu chí xác định huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo giai đoạn 2021-2025.

Theo Quyết định số 36/2021/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tiêu chí xác định huyện nghèo gồm 4 tiêu chí, cụ thể: Tỉ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025; Trình độ phát triển kinh tế-xã hội của các đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn huyện; Thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn huyện; Huyện thuộc khu vực miền núi, vùng cao, biên giới hoặc huyện thuộc các khu vực còn lại.

Tiêu chí xác định xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo gồm 2 tiêu chí:

Thứ nhất, là xã có đường ranh giới tiếp giáp bờ biển hoặc xã cồn bãi, cù lao, đầm phá, bán đảo, hải đảo có tỷ lệ hộ nghèo và hộ cận nghèo từ 15% trở lên theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025; xã bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn liên tục từ 3 tháng trở lên trong năm và có tỷ lệ hộ nghèo và hộ cận nghèo từ 12% trở lên theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025.

Thứ hai, thiếu (hoặc chưa đạt) từ 3/9 công trình cơ sở hạ tầng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, phục vụ dân sinh.

Cụ thể như: Xã chưa đạt tiêu chí quốc gia về y tế theo quy định của Bộ Y tế.

Cơ sở vật chất của trường mầm non hoặc tiểu học hoặc THCS chưa đạt mức 2 chuẩn quốc gia theo quy định của Bộ GD&ĐT.

Tỷ lệ phòng học kiên cố của nhà trẻ, lớp mẫu giáo theo quy định của Bộ GD&ĐT đạt dưới 75%.

Chưa có nhà văn hóa hoặc hội trường đa năng và sân thể thao phục vụ sinh hoạt văn hóa, thể thao của toàn xã đạt chuẩn theo quy định của Bộ VHTT&DL.

Tỷ lệ hộ gia đình tiếp cận được nguồn nước sạch trong sinh hoạt theo quy định của Bộ Y tế đạt dưới 85%.

Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh theo quy định của Bộ Y tế đạt dưới 70%.

Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT đạt dưới 85%.

Tỷ lệ km đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT đạt dưới 75%.

Tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT đạt dưới 40%. Riêng khu vực đồng bằng sông Cửu Long dưới 30%.

Trúc Mai
Tin đáng đọc