Kinh tế tư nhân ‘vươn mình’ trong bối cảnh mới sau một năm triển khai Nghị Quyết 68
Sau một năm thực thi Nghị quyết 68-NQ/TW, khu vực kinh tế tư nhân không chỉ củng cố niềm tin vào môi trường kinh doanh mà còn bộc lộ rõ khát vọng bứt phá, sẵn sàng đóng vai trò 'đầu tàu' trong bối cảnh kinh tế mới.
Từ Nghị quyết 68-NQ/TW, Bộ Chính trị đã chính thức đặt khu vực tư nhân vào vị thế 'đầu tàu' của nền kinh tế quốc gia. Văn kiện này không chỉ tháo gỡ những rào cản hiện hữu mà còn kỳ vọng đây sẽ là lực lượng dẫn đầu trong cuộc đua chuyển đổi số và làm chủ công nghệ của Việt Nam.
Chia sẻ tại họp báo của Bộ Tài chính, bà Trịnh Thị Hương - Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) cho rằng, kể từ khi Nghị quyết 68-NQ/TW ra đời, tinh thần khởi nghiệp, kinh doanh của khu vực doanh nghiệp đã bật dậy mạnh mẽ, giúp Việt Nam đạt 1 triệu doanh nghiệp hoạt động vào cuối năm 2025.
Bước sang năm 2026, tinh thần khởi nghiệp của cộng đồng doanh nghiệp tiếp tục được đẩy mạnh. Theo số liệu vừa được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố, 4 tháng đầu năm 2026, cả nước có 77,8 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký gần 785,4 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký 356,9 nghìn lao động, tăng 50,7% về số doanh nghiệp, tăng 60,1% về vốn đăng ký và tăng 0,3% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 4 tháng năm 2026 đạt 10,1 tỷ đồng, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm 2025.
Bên cạnh đó, 4 tháng năm 2026, cả nước có 41,6 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 8,6% so với cùng kỳ năm 2025), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong 4 tháng năm 2026 lên hơn 119,4 nghìn doanh nghiệp, tăng 32,8% so với cùng kỳ năm 2025.
Đánh giá về bức tranh doanh nghiệp 4 tháng đầu năm 2026, trao đổi với báo chí, ông Hoàng Quang Phòng - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cũng khẳng định, những kết quả này không chỉ phản ánh xu hướng mở rộng sản xuất kinh doanh, mà còn cho thấy môi trường đầu tư, kinh doanh đã được cải thiện đáng kể nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Nhà nước và Chính phủ. Chính điều đó đã góp phần khơi dậy tinh thần kinh doanh trong xã hội, tạo động lực để doanh nghiệp gia nhập thị trường và phát triển hoạt động.
Từ bức tranh doanh nghiệp những tháng đầu năm cũng được đại diện VCCI nhận định, trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam vẫn đang nỗ lực vượt khó, duy trì sản xuất kinh doanh, qua đó thể hiện sức sống bền bỉ của nền kinh tế.
Theo chia sẻ với báo chí, Luật sư Bùi Văn Thành - Trưởng Văn phòng Luật sư Mặt Trời Mới, Phó Chủ tịch Liên chi hội Tài chính Khu công nghiệp Việt Nam (VIPFA) cho rằng, điều quan trọng hơn mà doanh nghiệp nhận được sau 1 năm thực thi Nghị quyết 68 không phải là những con số thống kê, mà ở sự thay đổi sâu sắc về niềm tin và tư duy phát triển. Theo ông Bùi Văn Thành, điều quan trọng nhất mà Nghị quyết mang lại là đã tạo dựng được niềm tin cho doanh nghiệp vào thể chế, vào môi trường đầu tư kinh doanh và vào định hướng phát triển dài hạn của nền kinh tế. Khi niềm tin được củng cố, doanh nghiệp không còn dừng lại ở trạng thái thích ứng để tồn tại, mà bắt đầu chuyển sang trạng thái chủ động với khát vọng vươn lên.
Cụ thể hơn, ông Bùi Văn Thành cho rằng, trước đây trong bối cảnh còn nhiều bất định, phần lớn doanh nghiệp tư nhân lựa chọn cách tiếp cận thận trọng, đặt mục tiêu tồn tại và duy trì hoạt động lên hàng đầu. Nguồn lực tập trung vào kiểm soát chi phí vốn, xử lý thủ tục, duy trì dòng tiền và ứng phó với những biến động của thị trường. Việc mở rộng đầu tư hay phát triển quy mô thường bị trì hoãn do lo ngại về sự thiếu ổn định của chính sách. Điều này cũng dễ hiểu, bởi khi niềm tin vào môi trường kinh doanh chưa đủ vững chắc, doanh nghiệp khó có thể sẵn sàng bỏ vốn, nguồn lực và trí tuệ để theo đuổi các chiến lược dài hạn.
Tuy nhiên, với việc Nghị quyết 68 khẳng định rõ vị thế của kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế và đặt khu vực này vào trung tâm của quá trình phát triển, một tín hiệu chính sách mạnh mẽ đã được phát đi. Đây không chỉ là sự thay đổi về thể chế, mà còn là sự thay đổi về nhận thức và tư duy chiến lược của doanh nghiệp, doanh nhân. Từ chỗ bị động, dè dặt, doanh nghiệp đang chuyển sang chủ động tìm kiếm cơ hội, sẵn sàng đầu tư và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
Sự thay đổi về vị thế kéo theo sự thay đổi trong hành vi. Doanh nghiệp không còn chỉ tập trung vào duy trì hoạt động trong “vùng an toàn”, mà đã quan tâm nhiều hơn đến việc chuẩn hóa quản trị, minh bạch thông tin và tiếp cận các nguồn vốn dài hạn. Hoạt động mua - bán và sáp nhập, cũng như xu hướng tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng trong khu vực và toàn cầu ngày càng được chú trọng.
Bên cạnh đó, nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý của doanh nghiệp cũng gia tăng rõ rệt. Nếu như trước đây, doanh nghiệp chủ yếu tìm đến luật sư để thực hiện các thủ tục hành chính, thì hiện nay, phạm vi quan tâm đã mở rộng sang các vấn đề như cấu trúc vốn, quản trị doanh nghiệp, mua bán - sáp nhập, quản trị rủi ro hay ký kết hợp đồng quốc tế. Theo ông Luật sư Bùi Văn Thành, điều này phản ánh mức độ phát triển và chuyên nghiệp hóa ngày càng cao của khu vực kinh tế tư nhân.
Dù vậy, các chuyên gia cũng cho rằng quá trình chuyển hóa từ niềm tin sang năng lực thực chất vẫn cần thêm thời gian để kiểm chứng. Sự gia tăng về số lượng doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động là tín hiệu tích cực, nhưng việc hình thành các doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh cao sẽ phụ thuộc vào kết quả của giai đoạn trung và dài hạn. Tiến trình này bên cạnh sự nỗ lực của doanh nghiệp, cần sự đồng hành của Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương.






